Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu luận văn. Chương 2: Giới thiệu tổng quan tổng quan về ngành CNTT. Cơ sở lí thuyết, giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thiết kế mẫu nghiên cứu, cách thu thập số liệu, xác định cỡ mẫu, xây dựng thang đo và mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: sử dụng phần mềm SPSS để xử lí số liệu thu thập được. Trình bày các kết quả nghiên cứu thu được thông qua việc phân tích số liệu. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị: trình bày kết luận và đề xuất một số hàm ý quản trị. Qua đó nêu lên hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu trước.
7 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Tổng quan về ngành CNTT 2. Vai trò và ý nghĩa của ngành CNTT Theo các chuyên gia CNTT, thời điểm năm 2000, sự ra đời của Chỉ thị 58, trong đó khẳng định rõ tầm quan trọng của CNTT với công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đã tạo ra luồng sinh khí mới, là kim chỉ nam cho CNTT Việt Nam phát triển mạnh mẽ. CNTT nước nhà đã có được diện mạo mới: hạ tầng viễn thông, Internet đã có bước phát triển ngoạn mục; mức độ ứng dụng CNTT trong Cơ quan Nhà nước cũng như trong xã hội có sự thay đổi rõ rệt; đào tạo nhân lực CNTT đạt được những con số khá ấn tượng; công nghiệp CNTT cũng thu được những thành quả nhất định. Cụ thể, theo Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam 2014, tính đến cuối 2013, Việt Nam có 130 triệu thuê bao điện thoại (trong đó thuê bao di động chiếm 95% và số thuê bao 3G gần chạm mốc 20 triệu); cả nước có trên 33,1 triệu người dùng Internet, chiếm 37% tổng dân số; số thuê bao Internet băng rộng đạt hơn 22,3 triệu, đạt tỷ lệ 24,93 thuê bao/100 dân; và tổng doanh thu viễn thông năm 2013 đạt 7,2 tỷ USD.
(Trích Viện khoa học tổ chức nhà nước, Tin học & Hành Chính, 2015) Vị thế của Việt Nam trên bản đồ CNTT thế giới đã từng bước được nâng cao. Theo báo cáo của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), xếp hạng về chỉ số phát triển CNTT-TT của Việt Nam năm 2013 là 88/157, đứng thứ 4 khu Tin học & Hành chính số tháng 02/2015 vực đông Nam Á và thứ 14/28 nước châu Á-Thái Bình Dương được đánh giá; Việt Nam cũng được ITU đánh giá cao về ứng dụng CNTT với thứ hạng 83/155năm 2013. Còn theo Báo cáo CNTT toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới 2013, Việt Nam xếp hạng 84/148 nước về chỉ số sẵn sàng kết nối NRI, xếp hạng 58/148 về mức độ sẵn sàng trong Chính phủ ñiện tử; giá cước viễn thông, Internet của Việt Nam gần như thấp nhất thế giới, xếp hạng 8/148. Đặc biệt, về công nghiệp CNTT, theo báo cáo của Gartner, Việt Nam nằm trong Top 10 nước châu Á-Thái Bình Dương và Top 30 thế giới về gia công phần mềm.HCM xếp hạng 17 còn Hà Nội đứng thứ 22 trong danh sách 100 thành phố hấp dẫn về gia công phần mềm.2 Định nghĩa ngành CNTT Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology, viết tắt là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt trong các cơ quan tổ chức lớn.
Cụ thể, CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin. Vì lý do đó, những người làm việc trong ngành này thường được gọi là các chuyên gia CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant), và bộ phận của một công ty hay đại học chuyên làm việc với CNTT thường được gọi là phòng CNTT. Ở Việt Nam thì khái niệm Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển công nghệ thông tin của chính phủ Việt Nam, như sau: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội.3 Thực trạng đối tượng NC trong bối cảnh ngành CNTT Theo TS Võ Đình Bảy, trưởng khoa CNTT Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, cho biết hiện tại nguồn nhân lực cho ngành CNTT đang rất thiếu, số liệu thống kê mỗi năm cả nước cần 80.000 người làm trong ngành CNTT. Tuy nhiên, trung bình hằng năm có 30.000 sinh viên tốt nghiệp ngành CNTT và số lượng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp là không nhiều, nhất là những nhân viên có tay nghề tốt, có hiểu biết sâu về công việc, có đầu óc sáng tạo và làm việc ở những vị trí có khả năng giao tiếp và làm việc với nước ngoài.
Tuy nhiên câu chuyện thiếu nhân lực CNTT không chỉ gói gọn ở 9 số lượng mà còn nằm ở chất lượng. Ông Nguyễn Hoàng Trung, giám đốc điều hành ứng dụng LOZI, cho biết: Các bạn làm CNTT ở Việt Nam phần lớn có khả năng học hỏi nhanh kiến thức mới, tuy nhiên điểm yếu của các bạn là thiếu sự tìm tòi sâu, rộng lĩnh vực mình làm và thiếu sự sáng tạo trong công việc. Nhân viên CNTT thì đa phần làm việc theo lối mòn, tu duy cũ. Vì thế, chúng ta thấy rằng nhân viên ngành CNTT về chất lượng vẫn chưa tốt và sự sáng tạo trong công việc không cao.
Thực tế thì các nhà lãnh đạo nói chung và những lãnh đạo trong ngành CNTT nói riêng vẫn chưa thực sự làm tốt trong việc khuyến khích sự sáng tạo của nhân viên của mình. Vẫn còn rất nhiều nhân viên ngành CNTT với chất lượng làm việc chưa cao làm việc theo lối mòn, chưa thực sự sáng tạo để mang lại những hiệu quả công việc cao nhất. Ngày nay, phong cách lãnh đạo chuyển dạng ngày càng được phổ biến, là phong cách lãnh đạo mang lại hiệu quả cao và thúc đẩy khuyến khích nhân viên làm việc sáng tạo. Do đó, các nhà lãnh đạo cần trau dồi những kĩ năng kiến thức, kinh nghiệm bên cạnh đó cần chia sẻ, đồng cảm, lắng nghe và những động viên khích lệ tinh thần làm việc, khuyến khích tư duy và cách làm sáng tạo cho nhân viên.
Đặc tính công việc của ngành CNTT là khá phức tạp. Trên thực tế, một số đặc điểm công việc ngành CNTT: Lập trình: Công việc chính của lập trình viên là sử dụng những công cụ và ngôn ngữ lập trình để phân tích, thiết kế, tạo ra những phần mềm, website, trò chơi cung cấp cho thị trường. Đây là nghề đang phát triển mạnh ở nước ta và được nhiều bạn trẻ quan tâm. Các công ty phần mềm nghiên cứu, xây dựng, phát triển và cung cấp các phần mềm, các ứng dụng xây dựng website, games v.v… cho thị trường là điểm đến của các lập trình viên.
Chế tạo, lắp ráp và sửa chữa phần cứng: Những người làm trong lĩnh vực này có khả năng chế tạo, sửa chữa hay lắp ráp, lắp đặt các thiết bị, linh kiện của máy tính như ổ cứng, bo mạch, bộ vi xử lý. Các công ty sản xuất, lắp ráp và sửa chữa thiết bị phần cứng đang hứa hẹn một nền công nghiệp hùng mạnh trong tương lai. 10 Thiết kế giải pháp tích hợp: Công việc này đòi hỏi các chuyên gia phải am hiểu cả phần cứng và phần mềm, có khả năng thiết kế các giải pháp trọn gói cho một công ty, tổ chức về cả phần cứng lẫn phần mềm, dựa trên yêu cầu cụ thể. Họ làm nhiệm vụ tại các công ty cung cấp giải pháp tích hợp hiện đang trên đà phát triển tại Việt Nam.
Quản trị hệ thông và an ninh mạng: Ngày nay, hầu hết các công ty, doanh nghiệp, tổ chức đều có hệ thống máy vi tính kết nối mạng. Người làm công tác quản trị hệ thống và an ninh mạng có nhiệm vụ bảo đảm cho hệ thống vận hành suôn sẻ, giải quyết trục trặc khi hệ thông gặp sự cố, đảm bảo an toàn và bảo mật cho dữ liệu. Trong lĩnh vực này, bạn sẽ làm việc tại các công ty cung cấp giải pháp về mạng và an ninh mạng, các cơ quan, doanh nghiệp. Như chúng ta nhìn nhận, thực tế công việc ngành CNTT khá phức tạp đòi hỏi phải có nền tản kiến thức vững vàng, nặng về chiều rộng và chiều sâu.
Công việc càng phức tạp, đòi hỏi nhân viên càng đào sâu nghiên cứu, thách thức và tìm ra những phương thức làm việc sáng tạo hiệu quả nhất. Các khái niệm về phong cách lãnh đạo chuyển dạng, sự phức tạp công việc và sự sáng tạo của nhân viên 2. Lãnh đạo và phong cách lãnh đạo chuyển dạng 2.1 Khái niệm về lãnh đạo Với sự nhận thức phát triển của con người đã xác nhận có hơn 350 định nghĩa, thuật ngữ về lãnh đạo mà các học giả đã đưa ra. Để đưa ra một định nghĩa cụ thể về lãnh đạo là một nhiệm vụ rất phức tạp (Bass, 1997).
Sở dĩ các định nghĩa khác nhau là do họ chủ yếu mô tả các bản năng tự nhiên hay là họ nhấn mạnh về phong cách hành vi. Một số định nghĩa về lãnh đạo được trình bày sau đây: Theo Kenneth Blanchard (1939, 1988): lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng đến hành vi của một cá nhân hoặc một nhóm trong nỗ lực hướng tới mục tiêu ở một tình huống cụ thể. Chìa khóa của một nhà lãnh đạo thành công ngày nay là ảnh hưởng tới mục tiêu ở một tình huống cụ thể. Chìa khóa của một nhà lãnh đạo thành công ngày nay là ảnh hưởng chứ không phải quyền lực.
11 Theo Janda (1960): lãnh đạo là dạng đặc biệt của quan hệ được đặc trưng bởi nhận thức của các thành viên nhóm rằng: một thành viên khác của nhóm có quyền đòi hỏi những dạng hành vi đối với các thành viên khác trong hoạt động của họ như là một thành viên nhóm. Theo Yukl (2002): lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đến người khác để họ hiểu và đồng ý về những công việc cần thực hiện và thực hiện nó như thế nào một cách hiệu quả. Lãnh đạo là quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân và tập thể nỗ lực đạt được mục tiêu tổ chức đề ra.