Chương 1: Tổng quan lĩnh vực nghiên cứu. Chương này nêu ra lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu của luận văn. - Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Chương này hệ thống lại các lý thuyết liên quan đến phong cách lãnh đạo chuyển đổi và các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
Trên cơ sở đó tác giả đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu cho đề tài. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Phần này tác giả trình bày các bước và cách thức ghi nhận và đánh giá trong quá trình tác giả dùng trong luận văn. 5 - Chương 4: Tại nội dung kết quả, tác giả mô tả mẫu nghiên cứu, nhận xét và trao đổi về các nội dung kiểm định, nhận xét mô hình hồi quy để xem xét tác động của phong cách lãnh đạo chuyển đổi đến niềm tin của nhân viên và khả năng thay đổi của tổ chức.
- Chương 5: Hàm ý và khuyến nghị. Phần này tác giả dựa trên những phân tích, đánh giá ở chương 4 để đề xuất các giải pháp, khuyến nghị cho doanh nghiệp để nâng cao niềm tin của nhân viên và khả năng thay đổi của tổ chức thông qua điều chỉnh phong cách lãnh đạo phù hợp. 6 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Các khái niệm định nghĩa có liên quan 2.1 Khái niệm lãnh đạo Lãnh đạo được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một xã hội hay một tổ chức.
Lok và Crawford (2004) đã khẳng định lãnh đạo là yếu tố quyết định một doanh nghiệp sẽ thành công hay thất bại trên thị trường. Gill (2006) xác định rằng các nhà lãnh đạo giúp kích thích, động viên, khuyến khích và công nhận những người họ đang giám sát để đạt được kết quả hoạt động chính. Do đó, đây là một trong những chủ đề được thảo luận rộng rãi nhất bởi các nhà nghiên cứu trên thế giới (Kuchler, 2008). Tùy theo khí a cạnh nhìn nhận và mục tiêu nghiên cứu, các học giả lại đưa ra những định nghĩa khác nhau về lãnh đạo.
Schein (1992) cho rằng lãnh đạo là năng lực bứt phá khỏi những điều đã có sẵn để thực hiện quá trình thay đổi, đổi mới mang tính ứng dụng cao. Trong khi đó theo House và cộng sự (1999), “lãnh đạo là khả năng của một cá nhân nhằm tác động thức đẩy mọi người góp phần vào sự thành công của tổ chức”. Quan điểm này tưong đồng với Jong và Hartog ( 2007 ) khi cho rằng lãnh đạo là việc một người hoặc một nhóm người tác động đến những người khác để đạt được kết quả mong muốn. Trong khi đó Yukl (2002) thì cho rằng “lãnh đạo là quá trình một người gây ảnh hưởng đến người khác để họ hiểu và thực hiện theo những việc mà người lãnh đạo đưa ra ”.
Như vậy mặc dù có sự khác biệt nhất định song các học giả đều thừa nhận lãnh đạo là quá trình một người tác động làm thay đổi hành vi của một nhóm người để đạt được một mục tiêu nào đó. Các nhà lãnh đạo sẽ thông qua các thuộc tính lãnh đạo của mình để thực hiện quá trình tác động đến hành vi của cấp dưới. Những thuộc tính này có thể là niềm tin, đạo đức, tính cách, hành vi, phẩm chất, lý tưởng, kiến thức, kỹ năng.2 Phong cách lãnh đạo Trong nhiều thập kỷ qua các nhà quản trị cũng như các nhà hoạch định chính sách đều đã thừa nhân rằng phong cách lãnh đạo có vai trò quyết định đối vói sự thành công của tổ chức từ việc chấp nhận các đổi mới và thái độ làm việc, nhận thức, hành vi, chất lượng dịch vụ (Aarons, 2006). Do đó nhiều nghiên cứu về phong cách lãnh đạo đã được thực hiện trên toàn thế giới, theo đó cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về phong cách lãnh đạo.
Bums (1978) là một trong những người đầu tiên xem xét phong cách lãnh đạo về các đặc điểm giao dịch và chuyển đổi. Theo Bum (1978), phong cách lãnh đạo thể hiện cách thức hành vi một người lãnh đạo tác động tói hành động của cấp dưới thông qua nhận thức của họ. Trong khi theo Kotter, John, (2001), phong cách lãnh đạo là cách thức nhà lãnh đạo sử dụng trong việc chỉ đạo, triển khai công việc và tạo động lực làm việc cho nhân viên trong tổ chức. Theo Irwin (2014) phong cách phản ánh hình thức bên ngoài của một người lãnh đạo do đó nó có thể dễ dàng thấy được khi nhân viên giao tiếp, tưong tác cùng vói lãnh đạo của họ.
Theo Newstrom và Davis (1993) phong cách lãnh đạo là quá trình nhà lãnh đạo tiếp cận và thực thi hành động để tạo động lực cho nhân viên tác động đến hành động của nhân viên. Theo Nguyễn Tài Phúc, Hoàng Quang Thành (2009) “phong cách lãnh đạo là tổng thể các biện pháp, thói quen, cách thức cư xử mang tính đặc trưng, điển hình và tương đối ổn định mà người lãnh đạo sử dụng trong giải quyết công việc hàng ngày với tư cách là nhà lãnh đạo”. Các nghiên cứu ban đầu về lãnh đạo thường được phân loại là lý thuyết đặc điểm tập trung vào viêc xác định các đặc điểm tính cách, giúp phân biệt các nhà lãnh đạo với người không lãnh đạo. Các lý thuyết cho rằng các đặc điểm các nhà lãnh đạo thành công được sinh ra với những phẩm chất tự nhiên nhất định, điều này giúp họ khác biệt với những người theo sau (Bryman, 1993).
Tuy nhiên, khó khăn trong việc phân loại và xác nhận những điều này đã dẫn đến sự chỉ trích đối với những đặc điểm này, báo hiệu sự xuất hiện của các lý thuyết hành vi của lãnh đạo. Vào cuối những năm 1940 đến cuối những năm 1960, lý thuyết hành vi đã trở nên thống trị ủng hộ rằng hiệu quả trong lãnh đạo liên quan đến cách người lãnh đạo hành xử (Hersey và cộng sự, 2001). Lý thuyết này đã chuyển sự nổi bật từ các đặc điểm của nhà lãnh đạo sang hành vi và 8 phong cách mà nhà lãnh đạo áp dụng. Theo nghĩa này, những nghiên cứu ban đầu này tập trung vào việc xác định “một cách dẫn đầu tốt nhất”.
Tưong tự như các lý thuyết đặc điểm, điểm yếu chính của các lý thuyết về phong cách lãnh đạo và hành vi là chúng bỏ qua vai trò các yếu tố tình huống và khả năng lãnh đạo hiệu quả phụ thuộc vào tình huống. Chính sự hạn chế này đã làm nảy sinh các lý thuyết “tình huống” và “tình huống” về lãnh đạo (Fiedler, 1967), những lý thuyết này đã chuyển sự nhấn mạnh khỏi cách tốt nhất để dẫn đến lãnh đạo nhạy cảm với bối cảnh. Phưong pháp tiếp cận tình huống trở nên phổ biến vào cuối những năm 1960 đến đầu những năm 1980. Họ gợi ý rằng lãnh đạo hiệu quả phụ thuộc vào chẩn đoán và hiểu biết của nhà lãnh đạo về các yếu tố tình huống tiếp theo là việc áp dụng phong cách phù hợp để đối phó vói từng bối cảnh (Bryman, 1993).
Tuy nhiên, rõ ràng là để quay trở lại một cách lãnh đạo tốt nhất, các nghiên cứu gần đây về lãnh đạo đã đề xuất mô hình lãnh đạo toàn diện, còn được gọi là lý thuyết lãnh đạo giao dịch chuyển đổi. Các nhà lãnh đạo giao dịch được cho là công cụ và thường xuyên tập trung vào các mối quan hệ đối vói cấp dưới của họ (Bass và Avolio, 1993). Ngược lại, các nhà lãnh đạo chuyển đổi đang thúc đẩy để có tầm nhìn xa và nhiệt tình, với khả năng vốn có của cấp dưới (Howell và Avolio, 1993) được cho là công cụ và thường xuyên tập trung vào các mối quan hệ trao đổi với cấp dưới của họ (Bass và Avolio, 1993). Theo đó phong cách lãnh đạo rất đa dạng và linh hoạt phụ thuộc vào mỗi nhà lãnh đạo song các nghiên cứu trong quá khứ đã chỉ ra một số phong cách lãnh đạo phổ biến được áp dụng trong đa dạng lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, thậm chí là văn hóa và giáo dục.
Phong cách lãnh đạo ủy quyền: Robbins (2007) đã giải thích phong cách lãnh đạo ủy quyền là việc từ bỏ trách nhiệm đưa ra quyết định. Phong cách lãnh đạo này chỉ phát huy hiệu quả nếu cấp dưới của lãnh đạo là các chuyên gia giỏi và năng động, chẳng hạn như các nhà khoa học. Nguyên nhân được cho là do trong các tổ chức này nhân viên sẽ được lãnh đạo ủy quyền để đưa ra quyết định ( Mondy & Premeaux, 1995 ). 9 Phong cách lãnh đạo chuyên quyền: Theo Gosnos và Gallo (2013) phong cách lãnh đạo này có đặc điểm là nhân viên không tham gia vào quá trình ra quyết định.
Các nhà lãnh đạo thường không để ý đến những thỏa thuận trước đó với nhân viên. Họ xác định các nhiệm vụ và phưong pháp và không quan tâm đến các quyết định và sáng kiến của nhân viên. Phong cách chuyên quyền còn có đặc điểm là thực hiện ý chí của người lãnh đạo, không quan tâm đến ý kiến của nhân viên. Các nhà lãnh đạo chuyên quyền quyết định một mình, đưa ra mệnh lệnh cho nhân viên và mong đợi họ thực hiện chúng, dựa trên giao tiếp đon phưong từ trên xuống.
Để tạo động lực, người lãnh đạo sử dụng vị trí của mình để quyết định mức thù lao phù hợp. Phong cách lãnh đạo dân chủ: Theo Ray & Ray (2012), phong cách lãnh đạo dân chủ là một phong cách điều hành một nhóm rất cởi mở và mang tính tập thể. Ý tưởng di chuyển tự do giữa các nhóm và được thảo luận cởi mở. Đây là phong cách lãnh đạo trong đó các thành viên của nhóm tham gia nhiều hơn vai trò trong quá trình ra quyết định.
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng phong cách này thường là một trong những cách hiệu quả nhất và dẫn đến năng suất cao hơn, đóng góp tốt hơn từ các thành viên trong nhóm và tinh thần nhóm tăng lên. Phong cách lãnh đạo giao dịch: Đây là một quá trình lãnh đạo dựa trên sự trao đổi. Nó thúc đẩy cấp dưới bằng cách hấp dẫn những mong muốn cá nhân của họ, dựa trên những giao dịch kinh tế mang tính công cụ. Đa phần các nhà lãnh đạo giao dịch tận dụng quyền lực, chính sách để kiểm soát các cá nhân khác theo Bennett 2009 thì đấy là phương thức độc đoán.
The Bass và Avolio (2005) nhà lãnh đạo giao dịch tham gia vào các hành vi gắn liền với phong cách xây dựng quản lý (khen thưởng dự phòng) và quản lý theo phong cách khắc phục.