Chương 1. Giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu Chương 2. Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế Chương 3. Phương pháp nghiên cứu tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Liên minh châu Âu Chương 4.
Phân tích kết quả nghiên cứu tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Liên minh châu Âu Chương 5. Kết luận và gợi ý chính sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.1 Cơ sở lý thuyết về phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế 2.1 Lý thuyết về phát triển tài chính 2.1 Khái niệm phát triển tài chính Theo Feldman và Gang (1990), phát triển tài chính (còn được gọi là độ sâu tài chính) được định nghĩa là sự tăng trưởng về quy mô thực của khu vực tài chính trong mối quan hệ với GDP. McKinnon (1991) khi đề cập đến thuật ngữ “phát triển tài chính theo chiều sâu” cho rằng, phát triển tài chính theo chiều sâu là sự gia tăng tỷ lệ giá trị các tài sản tài chính so với GDP.
Trong khi đó, Hartmann và các cộng sự (2007) cho rằng, phát triển tài chính là quá trình cải cách tài chính và nâng cao hoạt động của các tổ chức trong hệ thống tài chính nhằm làm giảm thông tin bất cân xứng, tăng tính hoàn hảo của thị trường, tạo thêm khả năng cho các đối tượng trong nền kinh tế thực hiện được các giao dịch tài chính thông qua các hợp đồng, giảm thiểu chi phí giao dịch và tăng cạnh tranh. Cũng theo Adnan (2011), phát triển tài chính được định nghĩa là các chính sách, các nhân tố và các định chế dẫn đến các hoạt động trung gian hiệu quả và các thị trường tài chính hữu hiệu. Như vậy có thể thấy, phát triển tài chính là quá trình cải thiện về chất lượng trong việc tạo ra, thu hút, chu chuyển và kiểm soát các nguồn lực tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế.2 Hệ thống tài chính Phát triển tài chính được thể hiện thông qua sự phát triển của hệ thống tài chính. Hartmann và các cộng sự (2007) cho rằng, hiệu quả của hệ thống tài chính là hệ thống trung gian, thị trường và hạ tầng cơ sở mà thông qua chúng, khu vực hộ gia đình, các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 doanh nghiệp và chính phủ có thể nhận được nguồn tài trợ cho các hoạt động của họ và đầu tư những khoản tiết kiệm.
Adnan (2011) chỉ ra rằng, một hệ thống tài chính mạnh mẽ sẽ cho phép đa dạng hóa rủi ro và phân bổ vốn hiệu quả. Hệ thống tài chính càng mạnh thì việc dịch chuyển, phân bổ các khoản tiết kiệm vào các dự án sinh lợi càng cao. Theo đó, hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác nhau, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế - xã hội hoạt động trong lĩnh vực đó, bao gồm: tài chính công; tài chính doanh nghiệp; thị trường tài; tài chính quốc tế; tài chính hộ gia đình, cá nhân; tài chính các tổ chức xã hội; tài chính trung gian. Các thành phần này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của tài chính.
Hệ thống tài chính chịu ảnh hưởng bởi tác động của việc phân bổ các khoản tiết kiệm xã hội. Như vậy, các hệ thống tài chính thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm định và tài trợ cho các doanh nghiệp có triển vọng tốt nhất, chứ không phải các doanh nghiệp thông thường có lợi thế về ngoại giao chính trị, giúp cải thiện phân bổ vốn và kích thích phát triển kinh tế. Hơn nữa, bằng cách cải tiến quản lý doanh nghiệp, chuyên môn hoá các thị trường và thể chế tài chính sẽ giúp giảm lãng phí và gian lận, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên khan hiếm. Bằng cách quản lý tốt các rủi ro, hệ thống tài chính có thể dễ dàng kiếm được lợi nhuận tài chính cao hơn và có hiệu quả tích cực đối với mức sống.
Và bằng cách tiết kiệm toàn xã hội, hệ thống tài chính có thể khai thác kinh tế trên quy mô phát triển cao nhất từ các nguồn tài nguyên sẵn có.3 Thước đo phát triển tài chính Với những quan điểm khác nhau, nhiều nghiên cứu đã sử dụng các chỉ số khác nhau để đo lường mức độ phát triển tài chính như: tỷ lệ tín dụng cung cấp cho khu vực tư nhân so với GDP và so với tổng tín dụng; tỷ lệ tín dụng cung cấp bởi hệ thống ngân hàng so với GDP; độ sâu tài chính [M2(M3)/GDP] cho biết quy mô của khu vực trung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 gian tài chính so với nền kinh tế; vai trò tương đối của các ngân hàng thương mại so với ngân hàng trung ương,… Theo Levine (1997), phát triển tài chính được đo bằng tỷ lệ cung tiền M2 trên tổng GDP (%), thể hiện độ sâu tài chính. Tuy nhiên, hệ số M2/GDP sẽ không phải là biến đại diện phù hợp ở những nước mà hệ thống tài chính còn kém phát triển vì ở đó, tiền mặt được sử dụng là chủ yếu nên ảnh hưởng đến độ chính xác của hệ số. Ang (2007) sử dụng tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP (DCPS/GDP) và tỷ lệ cung tiền M2/GDP để đo lường. Theo tác giả, tỷ lệ DCPS/GDP nói lên mức độ phân bổ tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân.
Đồng quan điểm với Ang (2007), nghiên cứu của Hassan và các cộng sự (2011) đã chứng minh tỷ lệ DCPS có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Cũng theo tác giả, một tỷ lệ tín dụng nội địa được cấp bởi hệ thống ngân hàng/GDP nói lên mức độ phân bổ tín dụng nội địa được cấp bởi hệ thống ngân hàng và tỷ số này có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Wu và các cộng sự (2010) đo lường phát triển tài chính ngoài M2/GDP còn sử dụng tỷ lệ tiền gửi tiết kiệm nội địa trên tổng tiền gửi tiết kiệm. Adnan (2011) cho rằng, phát triển tài chính có thể được đo lường bằng nhiều nhân tố bao gồm độ sâu, quy mô, khả năng tiếp cận và sự vững chắc của hệ thống tài chính.
Bên cạnh đó, nó cũng có thể được đo lường bằng cách xem xét hiệu quả trong hoạt động của thị trường tài chính, ngân hàng, thị trường trái phiếu và các định chế tài chính.2 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 2.1 Khái niệm và đo lường Theo “Báo cáo về phát triển thế giới năm 1991” của Ngân hàng thế giới, cho rằng: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng của những đại lượng chính đặc trưng cho một trạng thái kinh tế, trước hết là tổng sản phẩm xã hội, có tính đến mối liên quan với dân số. Trong tác phẩm “Kinh tế học của các nước phát triển”, nhà kinh tế học E.Wayne Nafziger cho rằng: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng hoặc sự tăng lên về thu nhập bình quân đầu người của một nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo Kulkarni (2008), tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia tính bình quân trên đầu người (GDP bình quân đầu người) trong một thời gian nhất định. Trong khi đó, Durlauf và Blume (2010) cho rằng, tăng trưởng kinh tế được đo lường bởi sự thay đổi trong GDP bình quân đầu người.
Một số quan điểm khác cho rằng, tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Như vậy, có thể thấy rằng: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về tổng sản phẩm xã hội và tăng thu nhập bình quân đầu người. Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn. Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức: y = dY/Y × 100(%) Trong đó, Y là quy mô của nền kinh tế, y là tốc độ tăng trưởng, dY là vi phân của hàm số quy mô của nền kinh tế.
Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế.2 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế - Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế của Adam Smith: Adam Smith là nhà kinh tế học nổi tiếng nhất và được biết đến nhiều nhất trong số các nhà kinh tế học. Ông là người mở ra giai đoạn mới trong sự phát triển của kinh tế chính trị tư sản. Trong tác phẩm nổi tiếng “Của cải các dân tộc” xuất bản năm 1766, Adam Smith chỉ ra năm nhân tố tăng trưởng kinh tế gồm: lao động, tư bản, đất đai, tiến bộ kĩ thuật và môi trường chế độ kinh tế – xã hội.
Xuất phát từ lý luận giá trị lao động, Adam Smith coi lao động là nhân tố tăng trưởng cực kì quan trọng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế của David Ricardo: Năm 1817, với tác phẩm “Nguyên lý cơ bản của chính trị kinh tế học và thuế khóa”, David Ricardo được xem là người có tư tưởng phát triển cao nhất của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển nước Anh. Trong tác phẩm, Ricardo trình bày ba yếu tố tác động tới tăng trưởng là: lao động (L), vốn (K) và đất đai (R). Trong đó, Ricardo cho rằng, đất đai sản xuất nông nghiệp (R, Resources) chính là yếu tố cơ bản, là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế.
- Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế của Karl Marx (Mác): Học thuyết giá trị lao động của Mác được trình bày trong tác phẩm bộ “Tư bản” (gồm 3 cuốn: quyển 1, quyển 2 và quyển 3) xuất bản đầu những năm 1930. Theo Mác, các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật. Đối với yếu tố vốn và tiến bộ kĩ thuật, Mác cho rằng mục đích của các nhà tư bản là tăng giá trị thặng dư. Do đó, các nhà tư bản cần nhiều tiền vốn hơn để mua máy móc, trang thiết bị, ứng dụng công nghệ mới.