Mở đầu Phần 2. Nội dung Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu Chƣơng 2. Phƣơng pháp và tổ chức nghiên cứu Chƣơng 3.
Kết quả nghiên cứu Kết luận và khuyến nghị 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tác động Khái niệm tác động đƣợc định nghĩa theo Từ điển tiếng Việt, đó là ―làm cho một đối tƣợng nào đó có những biến đổi nhất định.‖ (Viện Ngôn ngữ học, 2003, tr. ―Tác động cũng có thể xem nhƣ là kết quả có thể nhƣ dự định hoặc không nhƣ dự định; có thể là những tác động tích cực hoặc tiêu cực; có thể đạt đƣợc ngay hoặc đạt đƣợc sau một thời gian nhất định; và có thể kéo dài hoặc không kéo dài.
Tác động có thể quan sát đƣợc, đo đếm đƣợc trong suốt quá trình thực thi, khi dự án kết thúc hoặc sau một thời gian khi kết thúc dự án. Trong nghiên cứu của mình, tác giả định nghĩa khái niệm tác động nhƣ sau: "Tác động là kết quả (có thể là tích cực hoặc tiêu cực) của một hoạt động tới một đối tƣợng nào đó. Khoa học Từ ―khoa học‖ xuất phát từ tiếng Latin ―Scienta‖, nghĩa là tri thức. Theo Từ điển Giáo dục học, khoa học là lĩnh vực hoạt động của con ngƣời nhằm tạo ra và hệ thống hóa những tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong những hình thái ý thức xã hội bao gồm cả hoạt động để thu hái kiến thức mới lẫn cả kết quả của hoạt động ấy, tức là toàn bộ những tri thức khách quan làm nên nền tảng của một bức tranh về thế giới.
Từ khoa học cũng có thể dùng để chỉ những lĩnh vực tri thức chuyên ngành. Những mục đích trực tiếp của khoa học là miêu tả, giải thích, dự báo các quá trình và các hiện tƣợng của thực tiễn dựa trên cơ sở những quy luật mà nó khám phá đƣợc (Bùi Hiền, 2015). Tác giả Sheldon (1997) cho rằng khoa học là một hoạt động trí tuệ đƣợc thực hiện bởi con ngƣời, đƣợc thiết kế để khám phá cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật – hiện tƣợng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Vũ Cao Đàm (1999), khoa học đƣợc hiểu là ―hệ thống tri thức khoa học về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tƣ duy‖.
Tri thức khoa học là những hiểu biết đƣợc tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học đƣợc vạch sẵn theo một mục tiêu xác định và đƣợc tiến hành dựa trên những phƣơng pháp khoa học. Tri thức khoa học chính là sự tổng kết những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hóa thành cơ sở lý thuyết về các liên hệ bản chất của vấn đề nghiên cứu. Theo Luật Khoa học và Công nghệ ban hành ngày 18 tháng 06 năm 2013, khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tƣợng tự nhiên, xã hội và tƣ duy (Quốc hội, 2013). Trong nghiên cứu của mình, tác giả xác định và chấp nhận định nghĩa về khoa học của Luật Khoa học và Công nghệ 2013 là phù hợp với đề tài nghiên cứu của mình.
Nghiên cứu khoa học 1. Khái niệm Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều khái niệm khác nhau về nghiên cứu khoa học (NCKH). Beillerot, từ những năm 1930 ở các nƣớc phƣơng Tây, từ ―khoa học‖ đƣợc dùng chung với từ ―nghiên cứu‖, để chỉ một hoạt động tuân thủ một quy trình chặt chẽ và khách quan nhằm tìm hiểu những vấn đề mà các nhà khoa học quan tâm (Đƣợc trích dẫn bởi Trần Thanh Ái, 2014). Theo Armstrong và Sperry (1994), NCKH là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm.
Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt đƣợc từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phƣơng pháp và phƣơng tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Hình thức nghiên cứu này cung cấp thông tin và lý thuyết khoa học nhằm giải thích bản chất và tính chất của thế giới. Kết quả của nghiên cứu khoa học tạo ra những ứng dụng cho thực tiễn. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Vũ Cao Đàm (1999), NCKH là ―một hoạt động xã hội, hƣớng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chƣa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phƣơng pháp mới và phƣơng tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới‖.
Tác giả Vũ Cao Đàm cũng đã đƣa ra một số đặc điểm của NCKH bao gồm: tính mới, tính tin cậy, tính thông tin, tính khách quan, tính rủi ro, tính kế thừa, tính cá nhân, tính trễ trong khoa học. Theo Babbie (2007), NCKH (Tiếng Anh: scientific research) là cách thức: (1) Con ngƣời tìm hiểu các hiện tƣợng khoa học một cách có hệ thống; và (2) là quá trình áp dụng các ý tƣởng, nguyên lý để tìm ra các kiến thức mới nhằm giải thích các sự vật hiện tƣợng. Trong từ điển NCKH, tác giả Lefrançois định nghĩa, NCKH ―là mọi hoạt động có hệ thống và chặt chẽ bao hàm một phƣơng pháp luận phù hợp với một hệ vấn đề nhằm tìm hiểu một hiện tƣợng, giải thích hiện tƣợng và khám phá một số quy luật. NCKH là nơi đối chiếu giữa những tiền giả định lý thuyết và thực tế nhƣ nó đƣợc cảm nhận‖ (Đƣợc trích dẫn bởi Trần Thanh Ái, 2014).
Theo Luật Khoa học và Công nghệ 2013, NCKH là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tƣợng tự nhiên, xã hội và tƣ duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn (Quốc hội, 2013). Dựa vào các định nghĩa trên và hiểu biết về NCKH, tác giả cho rằng NCKH là hoạt động tìm hiểu, điều tra hoặc thử nghiệm, dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt được từ thực nghiệm, để phát hiện ra cái m i về bản chất sự vật, quy luật mà khoa học chưa hề biết đến.Beillerot xét ở góc độ hoạt động nghiên cứu và hoạt động trí tuệ NCKH bao gồm 06 tiêu chí sau đây: 1. Là hoạt động sản sinh ra kiến thức mới; 2. Là một quy trình chặt chẽ; 3.
Phải có công bố kết quả; 4. Phải có nhận xét phê phán về nguồn gốc, phƣơng pháp, cách thức tiến hành của nghiên cứu; 5. Phải có tính hệ thống trong việc thu thập dữ liệu; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phải có diễn giải nghiên cứu theo các lí thuyết hiện hành khi xây dựng vấn đề nghiên cứu cũng nhƣ khi diễn giải các dữ liệu nghiên cứu.
Trong đó ba tiêu chí đầu đƣợc Beillerot coi là các tiêu chí cơ bản của NCKH, ba tiêu chí sau hƣớng tới ―chuẩn‖ trong NCKH (Đƣợc trích dẫn bởi Trần Thanh Ái, 2014). Phân loại NCKH Có nhiều cách để phân loại NCKH. Một cách khá phổ biến ở Việt Nam là cách phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu đƣợc đƣa ra trong cuốn ―Phƣơng pháp luận nghiên cứu khoa học‖ của tác giả Vũ Cao Đàm (1999). Theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu, có thể phân loại thành nghiên cứu cơ bản; nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm.
Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tƣơng tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác. Sản phẩm nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh dẫn đến hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát ảnh hƣởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học. Nghiên cứu cơ bản đƣợc phân thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hƣớng. - Nghiên cứu cơ bản thuần tuý là những nghiên cứu về bản chất sự vật để nâng cao nhận thức, chƣa có hoặc chƣa bàn đến ý nghĩa ứng dụng.
- Nghiên cứu cơ bản định hướng là những nghiên cứu đã dự kiến trƣớc mục đích ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản định hƣớng đƣợc chia thành nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề: + Nghiên cứu nền tảng là những nghiên cứu về quy luật tổng thể của một hệ thống sự vật. Hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên và các điều kiện thiên nhiên nhƣ địa chất, đại dƣơng, khí quyển, khí tƣợng; điều tra cơ bản về kinh tế, xã hội đều thuộc loại nghiên cứu nền tảng. + Nghiên cứu chu ên đề là nghiên cứu về một hiện tƣợng đặc biệt của sự vật, ví dụ trạng thái plasma của vật chất, bức xạ vũ trụ, gien di truyền.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu chuyên đề không chỉ dẫn đến hình thành những cơ sở lý thuyết, mà còn dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa thực tiễn. Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng quy luật đƣợc phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật; tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất đời sống. Giải pháp đƣợc hiểu theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này: có thể là một giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổ chức và quản lý. Một số giải pháp công nghệ có thể trở thành sáng chế.
Triển khai thực nghiệm là sự vận dụng các quy luật (từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (từ nghiên cứu ứng dụng) để đƣa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật. Hoạt động triển khai gồm triển khai trong phòng và triển khai bán đại trà: - Triển khai trong phòng là loại hình triển khai nhằm khẳng định kết quả sao cho ra đƣợc sản phẩm, chƣa quan tâm đến quy mô áp dụng. Loại hình này thƣờng đƣợc thực hiện trong các phòng thí nghiệm hay các xƣởng thực nghiệm. - Triển khai bán đại trà là dạng triển khai nhằm kiểm chứng giả thuyết về hình mẫu trên một quy mô nhất định.
Năng lực Năng lực (NL) là phạm trù đã đƣợc bàn luận, đánh giá từ nhiều bình diện, góc độ khác nhau, ở trong nƣớc cũng nhƣ ở nƣớc ngoài. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, NL là ―đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó.‖ (Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2003, tr.