Lời mở đầu Việt Nam đã bắt đầu lĩnh vực ngân hàng từ thế kỷ XIX. Ngân hàng là tổ chức vô cùng quan trọng đối với một quốc gia. Mặc dù các ngân hàng được thành lập để phục vụ các mục đích khác nhau, nhưng chúng gần như giống nhau về chức năng. Các ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì một hệ thống tài chính lành mạnh của một quốc gia.
Ngày nay, các ngân hàng đã liên tục tăng số lượng dịch vụ cung cấp cho công chúng. Hoạt động của các ngân hàng ngày nay phức tạp hơn. Một ngân hàng hiện đại phát hành thẻ tín dụng, giao dịch trong các giao dịch ngoại hối và thị trường tiền tệ đa dạng, chuyển tiền điện tử, hóa đơn và cơ sở tài chính thương mại, tài trợ cổ phiếu, người giám hộ và ủy thác kinh doanh và cung cấp một loạt các dịch vụ ngân hàng và đầu tư khác bên cạnh việc nhận tiền gửi, phát hành séc và cấp các khoản vay. Ngoài ra, ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận từ nhiều cách khác nhau và họ không còn chỉ tập trung vào thu nhập từ lãi mà còn tìm cách mở rộng thu nhập từ các dịch vụ khác nhau được họ cung cấp cũng như đầu tư.
Hiện nay, tham gia vào thị trường vốn là một trong những kênh chính mà các ngân hàng thực hiện. Kênh này giúp gia tăng giá trị của tổ chức, đem lại nguồn vốn khi phát hành cổ phiếu và thu nhập từ cổ tức khi đầu tư chứng khoán. Nguồn vốn có mặt trong mọi hoạt động của ngân hàng và có thu nhập ngân hàng mới có thể tồn tại và phát triển. Dẫn đến tình trạng giá cổ phiếu biến động sẽ tác động đến tổng thu nhập hoặc hiệu suất của ngân hàng.
Trong nền kinh tế luôn tồn tại yếu tố vĩ mô và yếu tố vi mô. Yếu tố vĩ mô có tác động rộng rãi tới nhiều đối tượng trong nền kình tế. Vậy nhân tố nào tác động, ảnh hưởng làm thay đổi giá cổ phiếu các ngân hàng hay không. Bằng cách đưa các nhân tố kinh tế vĩ mô cụ thể vào mô hình đa biến, chúng ta có thể biết rằng các biến kinh tế ảnh hưởng như thế nào đến biến động chứng khoán và mối quan hệ giữa chúng.
Nghiên cứu này muốn tạo ra một đóng góp đáng kể cho nhà kinh tế để hiểu rõ hơn về môi trường thị trường tài chính ở Việt Nam.2 Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng “ấn tượng” trên thế giới, theo Giám đốc World Bank Việt Nam. Hiệu quả kinh tế của nước ta nhạy cảm với những phát triển trong và ngoài biên giới. Quá trình hội nhập hóa và toàn cầu hóa, đã mang lại cho các doanh nghiệp và ngân hàng trong nước nhiều cơ hội hơn để tham gia kinh doanh ở nước ngoài. Tuy nhiên, toàn cầu hóa nền kinh tế trên toàn thế giới cũng có nghĩa là nhiều sự kiện kinh tế quốc tế có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận thể hiện ở giá chứng khoán của một ngân hàng.
Chính sách và hệ thống tài chính khác nhau của mỗi quốc gia có thể kích hoạt một mô hình biến động giá cổ phiếu các ngân hàng trước biến động kinh tế vĩ mô là không giống nhau. Không những vậy, các công cụ tài chính ở Việt Nam còn non trẻ và chịu ít nhiều tác động từ các quốc gia lớn như Mỹ, Trung Quốc. So với các nước này, có thể ngân hàng trong nước ta nhạy cảm hơn với những thay đổi của các yếu tố kinh tế vĩ mô. Các chỉ số kinh tế vĩ mô thể hiện điều kiện kinh tế hiện tại của một quốc gia và nó góp phần quan trọng trong việc xác định hiệu suất của thị trường chứng khoán (TTCK).
Nảy sinh nhu cầu cấp thiết là kiểm tra một số chỉ số kinh tế vĩ mô có khả năng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu ngân hàng hay không. Tại các nước có nền kinh tế phát triển đã có nhiều nghiên cứu về tác động các nhân tố vĩ mô tới giá cổ phiếu ngành ngân hàng, nên thực tế đòi hỏi cần thực hiện đề tài này đối với nền kinh tế Việt Nam. Cùng với đó là mong muốn hoàn thiện lý luận chuyên môn của bản thân. Bài viết này thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa giá cổ phiếu của các ngân hàng và các chỉ số kinh tế vĩ mô như lạm phát, chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất, tỷ giá, chỉ số giá chứng khoán Việt Nam.3 Mục tiêu nghiên cứu Trong nghiên cứu này, tác giả chia thành mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể.1 Mục tiêu chung Mục tiêu chung là kiểm tra các yếu tố kinh tế vĩ mô sẽ ảnh hưởng đến giá cả cổ phiếu của các ngân hàng tại Việt Nam như thế nào.2 Mục tiêu cụ thể Các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu được đề xuất là: 1.
Để phân tích mối quan hệ tuyến tính giữa lạm phát và giá cổ phiếu ngân hàng 2. Để phân tích mối tương quan giữa lãi suất và giá cổ phiếu ngân hàng 3. Để phân tích mối quan hệ tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu ngân hàng. Để phân tích mối quan hệ tuyến tính giữa chỉ số sản xuất công nghiệp và giá cổ phiếu ngân hàng.
Để phân tích mối quan hệ giữa VN-Index và giá cổ phiếu ngân hàng 1.4 Câu hỏi nghiên cứu 1. Liệu lạm phát có ảnh hưởng tới giá cổ phiếu của ngân hàng hay không? 2. Lãi suất có mối tương quan với giá cổ phiếu ngân hàng không? 3. Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đáng kể với giá cổ phiếu các ngân hàng hay không? 4.
Chỉ số sản xuất công nghiệp có mối quan hệ tuyến tính với giá cổ phiếu ngân hàng? 5. VN-Index có giải thích được sự biến động giá cổ phiếu ngân hàng? 1.5 Đối tượng nghiên cứu Theo đúng như tên đề tài nghiên cứu, xuất phát từ sự cấp thiết của vấn đề cần nghiên cứu, trên cơ sở khả năng nghiên cứu, tác giả lựa chọn đối tượng nghiên cứu chính là “Đánh giá tác động của các nhân tố vĩ mô tới giá cổ phiếu ngành Ngân hàng tại Việt Nam”.6 Kết quả nghiên cứu chính Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm tra sự thay đổi của các biến số kinh tế vĩ mô cụ thể đối với giá chứng khoán ngành ngân hàng tại Việt Nam bằng cách sử dụng mô hình hồi quy đa biến. Khóa luận này nghiên cứu tác động của một số nhân tố kinh tế vĩ mô tới giá cổ phiếu ngân hàng ở Việt Nam, sử dụng số liệu theo tháng từ ngày 1 tháng 1 năm 2009 tới ngày 31 tháng 12 năm 2018. Mô hình hồi quy được thực hiện bằng cách chạy mô hình năm biến kinh tế vĩ mô giải thích cho giá mỗi mã chứng khoán riêng lẻ.
Có bốn biến số kinh tế cho thấy có mối quan hệ ý nghĩa thống kê với biến động giá cổ phiếu của các ngân hàng được nghiên cứu. Từ kết quả, chỉ số giá chứng khoán (CSGCK) Việt Nam VN-Index đang ảnh hưởng đến tất cả các cổ phiếu của Ngân hàng trong khi lãi suất ảnh hưởng lớn nhất đối với giá cổ phiếu của các ngân hàng.7 Tính mới của nghiên cứu So với các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này có một số điểm mới. Thứ nhất, Việt Nam có nhiều đặc điểm nền kinh tế, văn hóa không giống các nước được nghiên cứu trước đó. Nghiên cứu trước đây về ảnh ưởng của nhân tố vĩ mô lên biến động giá cổ phiếu ngân hàng được thực hiện tại các nước như Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia.
Các nước này đều có nền kinh tế mạnh, phát triển hơn Việt Nam. Xu hướng của người châu Âu là thích đầu tư vào TTCK hoặc các kênh có rủi ro chấp nhận được, nhưng tâm lý người châu Á lại yêu thích khoản đầu tư an toàn không rủi ro. Phản ứng của các ngân hàng tại Việt Nam đối với sự thay đổi của các yếu tố kinh tế vĩ mô sẽ khác với các quốc gia khác do các điểm khác biệt. Rõ ràng thực hiện nghiên cứu tại các nước khác nhau có thể đem lại những kết quả tương phản.
Thứ hai, nghiên cứu có trước sử dụng nguồn dữ liệu trong quá khứ đến nay kết quả họ kết luận có thể đã không còn phù hợp. Với nguồn dữ liệu mới nhất, nghiên cứu này có thể mang lại kết quả hợp lý và chính xác hơn.8 Kết cấu Bài viết này có bố cục năm phần như sau. Đầu tiên, chúng ta đã bàn về tính cấp thiết của đề tài, tại sao đề tài được chọn lựa để nghiên cứu, tóm lược kết quả và điểm mới. Trong phần tiếp theo, phần 2 là một góc nhìn khái quát về bài nghiên cứu; nêu ra mục tiêu, đối tượng nghiên cứu và giới thiệu các tài liệu liên quan.
Tiếp theo thảo luận về phương pháp luận của nghiên cứu này trong phần 3. Mô hình và kết quả được trình bày trong phần 4; và phần 5 trình bày thảo luận, kết luận và ý nghĩa của nghiên cứu và gợi ý cho nghiên cứu trong tương lai. Phần 2: Tổng quan nghiên cứu 2.1 Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ. Tại Việt Nam, các NHTM hoạt động riêng lẻ và duới sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, trực thuộc Chính phủ.
Hiện nay, các ngân hàng niêm yết trên TTCK Việt Nam đều thuộc hệ thống NHTM.1 Khái niệm và vai trò Theo Luật các tổ chức tín dụng: Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. Nghiệp vụ chủ yếu và thường xuyên của NHTM là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.