CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ MÔ HÌNH BA NHÂN TỐ CỦA FAMA VÀ FRENCH 1. Các mô hình phân tích và dự báo cho thị trường chứng khoán Những mô hình định giá rất phổ biến và được sử dụng rộng rãi ngày nay. Chúng không ngừng được phát triển và cải tiến. Tất cả khởi đầu khi Markowitz (1952 - 1959) đã đặt nền móng cho các nghiên cứu về định giá tài sản bằng việc đưa ra lý thuyết về sự lựa chọn danh mục.
Kể từ đó, các mô hình định giá tài sản đã liên tục được nghiên cứu, phát triển, kiểm định. Bắt đầu với Sharpe (1964), Lintner (1965) và Mossin (1966) và CAPM- mô hình một nhân tố nổi tiếng. Những nhà nghiên cứu khác không đồng ý vì tin tưởng rằng có nhiều nhân tố khác tồn tại chứ không phải chỉ một tác động đến tỷ suất sinh lợi. Sau đó, Ross (1976) đề xuất mô hình với nhiều nhân tố cùng tham giá đánh giá tỷ suất sinh lợi chứng khoán.
Mô hình tồn tại với tên gọi: Mô hình kinh doanh chênh lệch giá-APT(Arbitrage Pricing Theory). Mặc dù APT thỉ hiệu quả hơn so CAPM thế nhưng mô hình này lại khó sử dụng. Những nhân tố khác trong mô hình phụ thuộc vào điều kiện kinh tế ở mỗi quốc gia Mô hình APT không đạt được mức độ thành công. Fama và French (1992 ) đã phát triển một mô hình định giá tài sản bằng cách kết hợp cả ba nhân tố: thị trường(như trong mô hình CAPM), qui mô và tỷ số BE/ME để dự báo và giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán.
Sau đó, Fama và French đã nhiều lần kiểm định về tính đúng đắn và hiệu quả của mô hình này. Tất cả những kết quả đều cho thấy mô hình của ể giải thích được tỷ suất sinh lợi của chứng khóan trên thị Fama và French có th trường chứng khoán tốt hơn là mô hình CAPM và đơn giản hơn so với mô hình APT. Mô hình ba nhân tố của Fama - French Trong nỗ lực của các nhà nghiên cứu tài chính để kiểm định mô hình CAPM, Eugene Fama và Keneth.French đã công bố một kết quả nghiên cứu c ó sức ảnh hưởng lớn qua bài nghiên cứu “ The cross-section of expected stock returns” đăng trên The Journal of finance số 47 vào năm 1992 từ trang 427 đến trang 465. Fama (1939) là giáo sư, tiến sỹ kinh tế và tài chính, ông được xem là người cha của học 123doc 5 thuyết thị trường hiệu quả và đã đạt giải Nobel kinh tế về lý thuyết tài chính.French (1954), là giáo sư ến ti sỹ tài chính, năm 2004 ông nhận giải thưởng Fama/DFA dành cho người đưa ra những bài báo nghiên cứu tốt nhất về thị trường vốn và định giá tài sản.
Nghiên cứu của Fama-French hướng đến việc ước lượng về vai trò của tất cả những yếu tố như qui mô công ty, đòn bẩy tài chính, tỷ số E/P, tỷ số BE/ME và beta trong việc giải thích tỷ suất sinh lợi của của các cổ phiếu NYSE, AMEX và NASDAQ. Tiếp tục công trình nghiên cứu này, mô hình ba nhân tố của Fama-French được công bố năm 1993 thể hiện nỗ lực phản ánh tốt hơn những biến số tác động đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán.1 Mô hình ba nhân tố: “Fama-French three- factors model” Fama và French đã lần lượt thực hiện các kiểm định về mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi trung bình với qui mô, hệ số đòn bẩy, E/P, BE/ME và thấy rằng tất cả các biến này đều quan trọng và có tín hiệu mong đợi. Kết quả cuối cùng đã chỉ ra rằng BE/ME và qui mô là những yếu tố có mối quan hệ mạnh nhất tới tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và vai trò của các yếu tố còn lại (đòn bẩy, E/P) bị che lấp khi đưa hai yếu tố này vào mô hình. Fama-French bắt đầu tập trung vào việc quan sát hai loại cổ phiếu có khuynh hướng tốt hơn so với toàn bộ thị trường với đặc tính như sau: Cổ phiếu của công ty có qui mô nhỏ (mức vốn hóa thị trường thấp) Cổ phiếu có hệ số giá trị sổ sách trên giá thị trường (BE/ME) cao (hay còn được gọi là những cố phiếu “giá trị”, ngược lại những cổ phiếu có tỷ số BE/ME thấp được gọi là cổ phiếu tăng trưởng).
Sau đó, Fama-French đã thêm hai nhân tố mới này vào mô hình CAPM để phản ảnh sự nhạy cảm của tỷ suất sinh lợi danh mục trước tác động của chúng. Giá trị sổ sách trên giá thị trường có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn khi so sánh với qui mô nhưng không thể thay thế được vai trò của qui mô khi giải thích tỷ suất sinh lợi. Khi đưa cả hai nhân tố này vào mô hình CAPM chúng ta sẽ có mô hình ba nhân tố. Mô hình ba nhân tố Fama -French được đưa ra vào năm 1993 và không ngừng được hai nhà nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện sau đó.
Mô hình này cho rằng tỷ suất sinh lợi 123doc 6 của một danh mục đầu tư hoặc một cổ phiếu riêng biệt phụ thuộc vào 3 yếu tố đó là: yếu tố thị trường, yếu tố qui mô công ty và yếu tố tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường vốn chủ sở hữu- BE/ME. Mô hình được mô tả như sau: E(Ri) = Rf + [E(Rm) - Rf ]beta + si E(SMB) + hi E(HML) Trong đó: • E(Ri) là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cho danh mục i. • Rf là tỷ suất sinh lợi phi rủi ro • E(Rm) là suất sinh lợi kỳ vọng của toàn bộ thị trường. • beta là hệ số hồi quy cho nhân tố phần bù rủi ro thị trường.
Beta trong mô hình “3 nhân ốt ” gần giống n hư beta truyền thống nhưng có giá trị nhỏ hơn, điều này là dễ hiểu khi có thêm hai nhân tố được đưa vào mô hình để giải thích cho tỷ suất sinh lợi thay vì chỉ sử dựng beta làm nhân tố duy nhất • si là hệ số hồi quy cho nhân tố SMB. • hi là hệ số hồi quy cho nhân tố HML. SMB là viết tắt của small minus big, là nhân tố đo lường tỷ suất sinh lợi tăng thêm mà nhà đầu tư nhận được bằng cách đầu tư vào chứng khoán của các công ty có mức vốn hóa thị trường nhỏ thường được gọi là các “small-cap stocks”. Phần tỷ suất sinh lợi tăng thêm này thường được xem như là phần bù cho qui mô.
Trong thực hành, nhân tố SMB hàng tháng được tính toán bằng cách lấy tỷ suất sinh lợi trung bình của 30% chứng khoán có mức vốn hóa nhỏ nhất trừ cho tỷ suất sinh lợi trung bình của 30% chứng khoán có mức vốn hóa lớn nhất. Giá trị SMB dương trong một tháng cho thấy rằng các chứng khoán small-cap đã đạt được kết quả tốt hơn so với chứng khoán của công ty có mức vốn hóa thị trường lớn hay còn gọi là large-cap stocks trong tháng đó. Ngư ợc lại, một giá trị SMB âm chỉ ra rằng các chứng khoán large-cap đã làm tốt hơn. Sử dụng các dữ liệu lịch sử, trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 1926 cho đến tháng bảy năm 2002, mức trung bình hàng năm của nhân tố SMB là vào khoảng 0.2% mỗi tháng , khoảng 3.3% hàng năm và 123doc 7 gần đây nhất, Ken French phát biểu rằng ông tin phần bù SMB trung bình hàng năm là từ 1.
HML viết tắt của high minus low, nhân tố này được xây dựng để đo lường “phần bù giá trị” (được gọi là “premium value”) là phần tỷ suất sinh lợi tăng thêm dành cho các nhà đầu tư nào đầu tư vào những công ty có tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường cao. Được xây dựng tương tự như là nhân tố SMB, trong thực hành HML được tính toán như là tỷ suất sinh lợi trung bình của 50% các cổ phiếu có tỷ số BE/ME cao nhất ( gọi là các cổ phiếu giá trị) trừ cho tỷ suất sinh lợi trung bình của 50% các cổ phiếu có tỷ số BE/ME thấp nhất ( các cổ phiếu tăng trưởng) mỗi tháng. HML dương trong một tháng cho thấy rằng những cổ phiếu giá trị đạt kết quả tốt hơn trong tháng, ngược lại HML âm cho thấy những cổ phiếu tăng trưởng đã làm tốt hơn. Trong suốt khoảng thời gian từ 1929-2002, phần bù giá trị ở mức khoảng 0.43% mỗi tháng, khoảng 5.1% hàng năm, và gần đây nhất thì Ken French cho rằng nó ở khoảng 3.
Các nhân tố tồn tại trong mô hình và rủi ro mà chúng đại diện: Mô hình Fama- French vẫn dựa trên cơ sở tỷ suất sinh lợi cao là phần thưởng cho sự chấp nhận rủi ro cao.Điều này có nghĩa là, nếu cổ phiếu của những công ty có mức vốn hóa nhỏ đạt được tỷ suất sinh lợi cao hơn những cổ phiếu có mức vốn hóa lớn thì phần tỷ suất sinh lợi vượt trội này phải đi cùng với rủi ro tăng thêm. Cả ba nhân tố trong mô hình của FAMA-FRENCH đều giải thích tỷ suất sinh lợi theo khía cạnh này:tỷ suất sinh lợi cao - rủi ro cao. Yếu tố thị trường, tất cả các nhà đầu tư đều có thể dễ dàng tạo ra tỷ suất sinh lợi phi rủi ro bằng cách đầu tư vào trái phiếu chính phủ. Nếu họ muốn tạo ra một tỷ suất sinh lợi cao hơn thì họ cần phải đầu tư vào các loại chứng khoán khác.
Phần bù rủi ro thị trường (R m-Rf) tồn tại trong mô hình một cách hiển nhiên, nếu nhà đầu tư chấp nhận một mức rủi ro cao hơn thì họ cũng sẽ nhận được một tỷ suất sinh lợi cao hơn bằng cách mua các cổ phiếu thay vì mua trái phiếu chính phủ. 123doc 8 Sự lý giải cho phần rủi ro mà nhân tố SMB đại diện thì dễ dàng nhận thấy dựa trên cơ sở lý thuyết nhưng đối với HML, việc xem xét nó như là một nhân tố rủi ro lại tạo ra nhiều cuộc tranh luận. Đối với SMB, nhân tố phản ánh cho rủi ro về qui mô trong mô hình hàm chứa một thông điệp rằng những công ty qui mô nhỏ thì rủi ro hơn là các công ty có qui mô lớn. Điều này khá lợp lý vì bản chất các công ty nhỏ thường chỉ có hoạt động tốt trong những những điều kiện bình thường, đều đều, không đổi và có khả năng kém trong việc ứng phó với các sự kiện tài chính bất lợi nảy sinh.
Mặt khác, nhân tố HML mang ý nghĩa rằng loại chứng khoán giá trị (tỷ số BE/ME cao) thì rủi ro cao hơn so với chứng khoán tăng trưởng (tỷ số BE/ME thấp).