Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và Thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý Luan van 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm nghiên cứu 2. Thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là một tập hợp bao gồm những người mua và người bán cổ phiếu (hay chứng khoán), cổ phiếu chính là đại diện cho quyền sở hữu của họ với doanh nghiệp đó; chúng có thể bao gồm các cổ phiếu được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán đại chúng, hoặc những cổ phiếu được giao dịch một cách không công khai, ví dụ như thông qua các nền tảng gọi vốn cộng đồng, cổ phần sẽ được bán cho các nhà đầu tư. Những khoản đầu tư trên TTCK hầu hết được thực hiện thông qua nền tảng giao dịch điện tử và môi giới chứng khoán hỗ trợ.
Sàn giao dịch chứng khoán là một sàn giao dịch mà tại đó các nhà đầu tư và môi giới chứng khoán có thể mua và bán các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác. Trên thị trường giao dịch chứng khoán, có nhiều sàn giao dịch chứng khoán lớn có điều kiện niêm yết theo tiêu chuẩn đã được quy định mà các công ty muốn được niêm yết cổ phiếu của họ trên đó, nhằm tăng sự uy tín và thu hút của doanh nghiệp mình cho các nhà đầu tư, cổ phiếu doanh nghiệp họ cũng sẽ có tính thanh khoản cao hơn. Sàn giao dịch cũng đóng vai trò như một bên bảo lãnh cho giao dịch mua bán. Các cổ phiếu khác có thể được giao dịch thông qua đại lý, được gọi là "qua quầy" (OTC – Over The Counter).
Nếu công ty đủ lớn, đạt tiêu chuẩn quốc tế thừa nhận, họ sẽ niêm yết cổ phiếu của họ tại nhiều hơn một sàn giao dịch ở các quốc gia khác nhau để thu hút đầu tư từ nước ngoài. Các sàn giao dịch chứng khoán cũng có khả năng thực hiện việc giao dịch của những loại chứng khoán khác, ví dụ như chứng khoán lãi suất cố định (trái phiếu) hoặc (ít phổ biến hơn) chứng khoán phái sinh, loại bình thường được giao dịch theo qua quầy. Giao dịch trên thị trường chứng khoán có nghĩa là việc chuyển nhượng một loại cổ phiếu hoặc chứng khoán từ người bán cho người mua. Việc này được diễn ra khi cả hai bên đồng thuận về giá và tạo ra sự khớp lệnh.
Sau khi kết thúc giao dịch, lệnh Luan van 11 được khớp từ hai bên, người mua đã sở hữu cổ phiếu, bên cạnh đó nhận được các quyền lợi kèm theo từ việc trở thành cổ đông của doanh nghiệp phát hành cổ phiếu đó. Ở khía cạnh người bán, thu về một khoản tiền sau khi khớp lệnh, tương tự như thoái vốn khỏi công ty, không còn quyền sở hữu và các quyền lợi từ cổ đông của doanh nghiệp đó. Như vậy, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, tác giả tóm gọn thị trường chứng khoán Việt Nam là nơi giao dịch các cổ phiếu mà trong đó các nhà đầu tư cá nhân bị ảnh hưởng bởi các yếu tố quyết định khi đặt lệnh mua hoặc bán cổ phiếu, đã thực hiện mua đi bán lại với nhau, nhằm mục đích sinh lợi cho mục tiêu tài chính mỗi cá nhân. Đầu tư cổ phiếu Cổ phiếu chính là đại diện cổ đông của công ty cổ phần.
Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua nắm giữ cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy xác nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Cổ phiếu là bằng chứng và là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần.
Quyền sở hữu của cổ đông trong công ty cổ phần tương ứng với số lượng cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn. Theo khoản 1 Điều 121 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Quyền phát hành cổ phiếu chỉ có ở công ty cổ phần.
Căn cứ khoản 1 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, cổ phiếu là một loại chứng khoán được xem như là tài sản, là đối tượng giao dịch trên sàn chứng khoán. Theo khoản 1, 2 Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2020, có 02 loại cổ phiếu như sau: Cổ phiếu thường còn được gọi là cổ phiếu phổ thông: thể hiện quyền sở hữu cổ đông. Người nắm giữ cổ phiếu sẽ có quyền quản lý và kiểm soát công ty Luan van 12 hay tham gia vào các cuộc họp Hội đồng quản trị, cũng như bỏ phiếu quyết định vào các vấn đề lớn của công ty tùy vào số lượng cổ phiếu nắm giữ. Cổ phiếu ưu đãi: Người nắm giữ sẽ nhận được các quyền lợi từ chính sách của doanh nghiệp như nhận cổ tức ưu đãi, quyền biểu quyết hay hoàn lại phần vốn góp với các hình thức khác nhau tùy quy định của doanh nghiệp.
Cá nhân, tổ chức đầu tư cổ phiếu là hình thức cá nhân, tổ chức đó thực hiện hành vi mua bán cổ phiếu với nhiều mục đích khác nhau, chủ yếu gồm: Đạt lợi nhuận mong đợi. Do cổ phiếu có tính thanh khoản, tỷ suất sinh lời lớn, không bị giới hạn về vốn đầu tư, việc giao dịch hợp pháp theo quy định pháp luật. Để tìm kiếm lợi nhuận là mục đích chính của việc đầu tư cổ phiếu, dù bất kể dưới hình thức nào. Nắm quyền quản lý hoặc sở hữu công ty: Để đạt được điều này, họ phải mua bán giao dịch với số lượng cổ phiếu lớn, đủ mức nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp đó theo quy định của mỗi doanh nghiệp về việc sở hữu.
Tóm lại, các nhà đầu tư cá nhân thực hiện việc đầu tư cổ phiếu chính là việc cá nhân mua bán các loại cổ phiếu được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận theo mục tiêu tài chính của bản thân. Nhà đầu tư cá nhân Theo Nhà đầu tư cá nhân thường là những nhà đầu tư quy mô nhỏ lẻ, phần đông là thiếu chuyên nghiệp. Họ giao dịch với giá trị nhỏ hơn nhiều so với nhà đầu tư tổ chức (Goetzman và Kumar, 2008). Việc giao dịch được thực hiện thông qua tài khoản cá nhân của họ tại công ty chứng khoán.
Các đặc điểm chính của nhà đầu tư cá nhân: Các nhà đầu tư cá nhân là những người tham gia TTCK không chuyên nghiệp và thường đầu tư số tiền nhỏ hơn các nhà đầu tư tổ chức. Luan van 13 Các nhà đầu tư cá nhân sẽ phải trả mức phí giao dịch cao hơn các nhà đầu tư tổ chức vì giá trị giao dịch của họ nhỏ hơn, do đó sẽ không được ưu đãi nhiều từ các công ty môi giới chứng khoán. Nhà đầu tư cá nhân rất đa dạng, họ có thể làm bất kể ngành nghề nào, không bị giới hạn về lĩnh vực làm việc. Chỉ cần có tài khoản chứng khoán là có thể giao dịch được.
Các nhà đầu tư cá nhân thường mua và bán các giao dịch trên thị trường cổ phiếu và trái phiếu và có xu hướng đầu tư số tiền nhỏ hơn nhiều so với các nhà đầu tư tổ chức lớn. Họ thường đầu tư vào cổ phiếu của các công ty nhỏ vì mức giá thấp hơn, cho phép nhà đầu tư cá nhân mua nhiều chứng khoán khác nhau với số lượng cổ phiếu thích hợp để đạt được danh mục đầu tư đa dạng. Tóm lại, nhà đầu tư cá nhân là những người cá nhân riêng lẻ, tham gia mua bán giao dịch cổ phiếu nhằm mục đích sinh lợi, kỳ vọng đạt được mục tiêu tài chính đề ra. Họ là những nhà đầu tư nhỏ lẻ, không chuyên nghiệp, thiếu kiến thức, kỷ luật khi tham gia thị trường chứng khoán.
Điều này dẫn đến các nhà đầu tư cá nhân dễ tổn thương khi gặp các quyết định mua cổ phiếu sai lầm. Các yếu tố ảnh hưởng quyết định đầu tư Theo Nguyễn Đức Hiển (2012), quyết định đầu tư là sự cam kết của các nguồn tiền tại thời điểm khác nhau với kỳ vọng lợi nhuận kinh tế trong những thời điểm ở tương lai. Sự lựa chọn được đưa ra nhằm đem lại khoản thu sau một khoảng thời gian trong cả quy trình đầu tư. Sẽ có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, nên đây luôn được xem là khái niệm cần quan tâm khi nghiên cứu đến hành vi của các nhà đầu tư cá nhân.
Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng sẽ được xem xét từ bên trong và bên ngoài nhà đầu tư (Lê Hoàng Thu Dung, 2014), cụ thể như sau: Các yếu tố bên trong thuộc về cá nhân của nhà đầu tư như: Tuổi tác: Ở một độ tuổi sẽ có những thói quen và nhu cầu khác nhau với mỗi cá nhân. Khi người ở độ tuổi cao sẽ có xu hướng tiếp nhận thông tin mới khó Luan van 14 khăn, việc xử lý các thông tin mới mất thời gian hơn những người trẻ. Do đó, những nhà đầu tư cá nhân trẻ tuổi thường sẽ có mức độ tự tin cao hơn những nhà đầu tư lớn tuổi, thích đa dạng danh mục đầu tư, mua bán nhiều mã chứng khoán liên tục. Bên cạnh đó, nhà đầu tư cá nhân lớn tuổi sẽ bớt có tâm lý đánh bạc trên TTCK hơn những người trẻ, việc ra quyết định đầu tư cũng điềm đạm hơn, có sự nghiên cứu kỹ lưỡng và khoa học trước khi quyết định mua bán cổ phiếu nào đó.
Nghề nghiệp: Với mỗi cá nhân khác nhau, môi trường làm việc, tính chất nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến hình thành tính cách của mỗi cá nhân. Từ đó, mỗi cá nhân đưa ra các lựa chọn danh mục cổ phiếu ở các lĩnh vực nghề nghiệp mà họ quan tâm là chủ yếu, dễ bị thu hút từ các lĩnh vực liên quan đến nghề nghiệp của họ. Lĩnh vực làm việc của mỗi người cũng sẽ ảnh hưởng đến nhóm ngành nghề mã chứng khoán mà họ muốn giao dịch. Ví dụ người công nhân thợ may quần áo, giày dép, … sẽ thường quan tâm đến các doanh nghiệp trong lĩnh vực may mặc.
Hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thường nắm giữ danh mục các cổ phiếu thuộc ngành ngân hàng. Người làm việc liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, máy tính, điện tử đa phần cũng sẽ hướng sự quan tâm đến các cổ phiếu nhóm ngành công nghệ thông tin.