Lời mở đầu Năm 2012 đánh dấu một năm thu hút dòng vốn kỷ lục qua kênh đầu tƣ chứng khoán, đạt 170. Tuy nhiên cũng là một năm đánh dấu một kỷ lục “ngƣợc” khác: các doanh nghiệp vừa phải trải qua một năm 2011 quá nhiều khó khăn, thì năm 2012 lại tiếp tục phải chịu đựng thêm nhiều khó khăn lớn khác. Đó là thị trƣờng bất động sản trầm lắng kéo dài, việc xử lý nợ xấu của khối ngân hàng gặp nhiều khó khăn… Diễn biến này tác động tiêu cực đến sức cầu của thị trƣờng. Dòng vốn đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FII) năm 2012 vào thuần từ đầu năm đến hết tháng 10 giảm 60% so với cùng kỳ năm 2011.
Khối công ty chứng khoán thua lỗ, dẫn tới vi phạm chuẩn mực đạo đức hoạt động nhƣ lạm dụng tài khoản tiền và chứng khoán của nhà đầu tƣ. Điều này tác động tiêu cực đến lòng tin của NĐT và hình ảnh của thị trƣờng. Năm 2012, trong số 105 CTCK hoạt động, thì có trên 50% bị lỗ và trên 70% có lỗ lũy kế. Ngoài ra, trên thị trƣờng còn xuất hiện những hiện tƣợng “đổi chủ” rất nóng thể hiện qua những phiên giao dịch đầy biến động, nhất là qua các giao dịch thỏa thuận với khối lƣợng và giá trị “khủng”… Đây sẽ không phải là những trƣờng hợp cá biệt mà có thể trở thành một làn sóng làm rung chuyển toàn bộ thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, mà một trong những nguyên nhân sâu xa chính là hiện tƣợng bất cân xứng thông tin.
Thông tin bất cân xứng xuất hiện khi ngƣời mua và ngƣời bán có các thông tin khác nhau. Ngƣời buôn ngựa mang một con ngựa vừa già vừa xấu ra chợ. Bỏ một con lƣơn còn sống vào trong cổ họng của nó. Con ngựa sẽ thể hiện sự tràn đầy sức sống.
Đó là những thủ đoạn lừa gạt. Một bên của thị trƣờng là những kẻ lừa đảo. 123doc 2 Còn bên kia là những ngƣời cố tránh những kẻ lừa đảo. Nếu thái quá, thị trƣờng sẽ hoàn toàn bị sụp đổ.
Và cả ngƣời tốt lẫn ngƣời xấu đều bị thua thiệt. Lý thuyết thông tin bất cân xứng 1 lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định đƣợc vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế. Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trƣớc khi tiến hành ký kết hợp đồng. Các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, ngƣời mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị đích thực của hàng hóa.
Hậu quả là ngƣời bán cũng không còn động lực để sản xuất hàng có giá trị và có xu hƣớng cung cấp những sản phẩm có chất lƣợng thấp hơn chất lƣợng trung bình trên thị trƣờng. Rốt cuộc trên thị trƣờng chỉ còn lại những sản phẩm chất lƣợng xấu – những “trái chanh” bỏ đi, hàng tốt bị loại bỏ, dẫn đến lựa chọn bất lợi 2 cho cả hai bên. Nhƣ vậy, hiện tƣợng lựa chọn bất lợi đã cản trở việc giao dịch trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Thông tin bất cân xứng còn gây ra hiện tƣợng tâm lý ỷ lại3 sau khi hợp đồng đã đƣợc giao kết nhƣng một bên có hành động che đậy thông tin mà bên kia khó lòng kiểm soát, hoặc muốn kiểm soát thì cũng phải tốn kém chi phí.
Lý do chọn đề tài Kyle (1985) cho rằng sự xuất hiện của những ngƣời giao dịch biết nhiều về giá trị của cổ phiếu có thể gây ra chi phí lựa chọn bất lợi giữa ngƣời giao dịch có thanh khoản và các nhà tạo lập thị trƣờng. Các nhà tạo lập thị trƣờng có thể đƣợc bồi thƣờng vì đã gánh chịu chi phí này bởi độ biến thiên rộng của giá mua và giá bán và vì vậy cuối cùng bồi thƣờng chi phí từ ngƣời giao dịch có thanh khoản. Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng đo lƣờng độ lớn của những chi phí này bằng cách phân tích độ biến thiên của giá mua và giá bán thành các nhân tố, một trong số đó là chi phí lựa chọn bất lợi. Các nhà nghiên cứu thƣờng dựa vào những ƣớc lƣợng 1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng: Asymmetric Information 2 Lựa chọn bất lợi: Adverse selection 3 Hiện tƣợng tâm lý ỷ lại: Moral hazard 123doc 3 theo kinh nghiệm của họ về chi phí lựa chọn bất lợi trên các dữ liệu giao dịch, cái này rõ ràng bác bỏ các yếu tố bên ngoài tài chính doanh nghiệp có thể gây ra chi phí lựa chọn bất lợi.
Nếu chúng ta xem xét các dữ liệu xa hơn, chi phí lựa chọn bất lợi giống nhƣ một chức năng của mức độ thông tin bất cân xứng xung quanh lợi nhuận và giá trị thực của cổ phiếu và xác suất nhà đầu tƣ có thông tin có thể lợi dụng dựa trên thông tin bất cân xứng này. Ví dụ, các công ty có nhiều cơ hội tăng trƣởng mạnh trong tƣơng lai có thể có nhiều thông tin bất cân xứng hơn về giá trị thực của họ. Vì độ lệch chuẩn ngẫu nhiên trong giá trị thực, thông tin bất cân xứng có thể gây ra độ biến thiên lớn hơn của cổ phiếu. Những ngƣời giao dịch có thông tin cần độ lệch chuẩn ngẫu nhiên này từ giá trị thực để tạo ra các cơ hội vốn hóa các thông tin cá nhân thành chi phí của nhà tạo lập thị trƣờng.
Những đặc tính rõ ràng này của cổ phiếu tự nó không thể đo lƣờng đƣợc chi phí lựa chọn bất lợi. Thay vào đó, họ cung cấp các tình huống mà chúng ta có thể mong rằng nó ít hoặc nhiều chi phí lựa chọn bất lợi hơn. Sự hấp dẫn cao độ của các yếu tố chi phí lựa chọn bất lợi là chúng nỗ lực đo lƣờng các vấn đề về thông tin một các trực tiếp. Chính vì vậy đề tài ứng dụng, đi sâu vào nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến thông tin bất cân xứng hay chính là chi phí lựa chọn bất lợi trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam để thấy đƣợc bức tranh trong giai đoạn sau đà suy giảm hiện nay của thị trƣờng nƣớc ta.
Mục đích nghiên cứu Trên thị trƣờng chứng khoán, hiện tƣợng bất cân xứng xảy ra khi: doanh nghiệp che giấu các thông tin bất lợi, thổi phồng thông tin có lợi.; doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tƣ; doanh nghiệp sau khi phát hành cổ phiếu không chú trọng vào đầu tƣ sản xuất kinh doanh mà chỉ tập trung vào việc “làm giá” trên thị trƣờng chứng khoán; có sự rò rỉ thông tin nội gián; một số nhà đầu tƣ tạo cung cầu ảo trên thị trƣờng dẫn đến phản ánh sai lệch giá trị của doanh nghiệp; một số kẻ xấu tung tin đồn thất thiệt cho doanh nghiệp; các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin sai lệch; các trung gian tài chính cung cấp, xử 123doc 4 lý thông tin không chính xác. Tình trạng bất cân xứng về thông tin sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tƣ đƣa ra các quyết định đầu tƣ không chính xác, gây cung cầu ảo, thị trƣờng bong bóng và tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ thị trƣờng. Do đó, dựa trên cơ sở tìm hiểu về các yếu tố ảnh hƣởng đến thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, đề tài hƣớng tới đánh giá thực trạng bất cân xứng thông tin xảy ra tại TTCK Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề tài tập trung vào giải quyết những vấn đề đặt ra nhƣ sau: 1) Các yếu tố nào ảnh hƣởng đến mức độ bất cân xứng thông tin của các công ty niêm yết hiện nay trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam? 2) Chính sách nào là cần thiết nhằm làm giảm thông tin bất cân xứng và góp phần phát triển TTCK hiệu quả? 1.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng chính đƣợc tập trung nghiên cứu là các Công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Trong nghiên cứu này, thị trƣờng chứng khoán đƣợc nghiên cứu là thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, bao gồm Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX).
Trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam có tổng cộng khoảng 700 công ty niêm yết trong vòng hơn 10 năm qua, tuy nhiên, do thời lƣợng có hạn nên tác giả chỉ thu thập đƣợc dữ liệu của 203 công ty niêm yết một cách ngẫu nhiên. Mức độ thông tin bất cân xứng đƣợc xem xét thông qua các giao dịch khớp lệnh cả trên thị trƣờng chính thức lẫn các giao dịch thông qua thỏa thuận. Thời gian nghiên cứu đƣợc chọn là các tháng 4, 5 và 6 của năm 2012. Thời gian này đƣợc sử dụng bởi vì thông thƣờng, đây là thời điểm các công ty đã hoàn tất việc công bố thông tin các báo cáo 123doc 5 tài chính của năm liền trƣớc nên thị trƣờng đã bắt đầu có các phản ứng về kết quả của các báo cáo này.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 1. Ý nghĩa khoa học Đề tài đi vào nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến thông tin bất cân xứng của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn Xác định đƣợc các yếu tố ảnh hƣởng đến thông tin bất cân xứng ra sao để từ đó đƣa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm giúp xây dựng một thị trƣờng chứng khoán hiệu quả. Kết cấu của đề tài Báo cáo kết quả nghiên cứu đƣợc chia làm bốn chƣơng.
Sau Chƣơng I đã trình bày ở trên, Chƣơng II đi vào các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng chứng khoán. Tiếp theo, Chƣơng III sẽ xác định các biến và mô hình đo lƣờng, chọn mẫu và chạy mô hình, phân tích kết quả nghiên cứu để kết luận các giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Cuối cùng, Chƣơng IV tóm tắt ý nghĩa của nghiên cứu đối với các cơ quan hữu quan, đồng thời trình bày một số giải pháp tham khảo và những giới hạn của nghiên cứu cũng nhƣ định hƣớng cho những nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 CHƢƠNG II: CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ĐO LƢỜNG THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG Chƣơng II trình bày các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về thông tin bất cân xứng, thể hiện qua chi phí lựa chọn bất lợi, trên thị trƣờng chứng khoán.