Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Ngô Nhật Phương Diễm, chuyên ngành Kế toán (mã số 93.301) tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Đình Trực và TS. Trần Văn Thảo, hoàn thành vào năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) là tập hợp các quyết định của nhà quản trị nhằm trình bày lợi nhuận khác biệt so với kết quả hoạt động thực tế, gây nhầm lẫn hoặc cung cấp thông tin sai lệch cho người sử dụng báo cáo tài chính thông qua việc vận dụng các chính sách kế toán, các khoản dồn tích hoặc thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Trên thế giới, các sự kiện gian lận số liệu kế toán tại các tập đoàn như Enron (phá sản năm 2001, thiệt hại khoảng 70 tỷ USD, giá cổ phiếu giảm từ 90 USD xuống dưới 1 USD, hơn 80.000 nhân viên mất việc làm), WorldCom (cổ đông thiệt hại 180 tỷ USD, kinh tế Mỹ tổn thất khoảng 10 tỷ USD, 20.000 nhân viên mất việc) và Xerox đã làm xói mòn niềm tin của thị trường tài chính. Tại Việt Nam, nhiều công ty niêm yết có mức biến động lợi nhuận lớn sau kiểm toán như: CTCP Kỹ Nghệ Gỗ Trường Thành (năm 2017 giảm 91% lợi nhuận sau kiểm toán so với báo cáo tự lập), CTCP Hoàng Anh Gia Lai (năm 2017 giảm 661 tỷ đồng), Tổng công ty Thép Việt Nam (giảm 108 tỷ đồng), CTCP Hùng Vương (tăng lỗ thêm 642 tỷ đồng), CTCP XNK Thủy sản An Giang (từ lãi 4 tỷ đồng thành lỗ 187 tỷ đồng), CTCP Đầu tư Thương mại Thủy sản ICF (tăng lỗ từ 21,42 tỷ đồng lên 29,04 tỷ đồng), CTCP GTN Foods (tăng lợi nhuận sau kiểm toán gần 20 tỷ đồng), Tổng công ty CP Vận tải Dầu khí (tăng gần 37 tỷ đồng).

Mặc dù khu vực công nghiệp sản xuất đóng vai trò nòng cốt đối với nền kinh tế (theo Tổng cục Thống kê, quý 1 năm 2018 GDP tăng 7,38% thì khu vực công nghiệp sản xuất tăng 9,7%, đóng góp 3,39 điểm phần trăm vào mức tăng chung), nhưng đây lại là ngành được ghi nhận có chất lượng báo cáo tài chính thấp nhất (Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016). Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu khảo sát toàn bộ các công ty niêm yết nói chung mà chưa có công trình nào tập trung chuyên biệt vào các công ty sản xuất niêm yết (CTSXNY). Đồng thời, phần lớn các nghiên cứu trong và ngoài nước tập trung vào các đặc điểm riêng lẻ của quản trị công ty (QTCT) như quy mô, tính độc lập, trình độ chuyên môn, tần suất họp... và đưa ra các kết quả mâu thuẫn nhau. Kiểm tra sơ bộ của tác giả cho thấy các đặc điểm riêng lẻ của Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát (BKS) hầu như không có tương quan với hành vi QTLN. Dựa trên lý thuyết tới hạn, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu then chốt: các đặc điểm riêng lẻ có thể chưa đạt đến ngưỡng tác động, do đó cần thiết phải xây dựng nhân tố tổng hợp đại diện QTCT để đánh giá một cách toàn diện và đồng nhất tác động của cơ chế quản trị đối với hành vi QTLN.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Luận án xác lập hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu 1: Khám phá nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại các CTSXNY ở Việt Nam.
  • Mục tiêu nghiên cứu 2: Đo lường mức độ tác động của nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại các CTSXNY ở Việt Nam.

Để giải quyết các mục tiêu trên, luận án đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại CTSXNY ở Việt Nam là gì?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Mức độ tác động của nhân tố tổng hợp đại diện QTCT ảnh hưởng đến hành vi QTLN tại các CTSXNY ở Việt Nam như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) và nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty (QTCT) tác động đến hành vi QTLN.
  • Phạm vi không gian: Các công ty sản xuất niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2012 đến năm 2016. Mốc năm 2012 được lựa chọn vì là thời điểm Bộ Tài chính ban hành Thông tư 121/2012/TT-BTC quy định về quy chế QTCT áp dụng cho các công ty niêm yết, giúp dữ liệu công bố trên báo cáo thường niên và báo cáo quản trị tương đối đầy đủ; mốc năm 2016 là năm tài chính cuối cùng có đầy đủ hệ thống báo cáo phục vụ việc thu thập dữ liệu tại thời điểm nghiên cứu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu đo lường hành vi quản trị lợi nhuận

Hành vi QTLN được đo lường qua hai nhánh phương pháp chính:

Hướng tiếp cận Mô hình đại diện tiêu biểu Tác giả và năm công bố Cơ chế đo lường cốt lõi
QTLN thông qua các hoạt động kinh tế (REM) Mô hình bất thường dòng tiền, chi phí sản xuất, chi phí tùy ý Healy và Wahlen (1999); Dechow và Skinner (2000); Graham và cộng sự (2005); Roychowdhury (2006) Đo lường mức độ bất thường của dòng tiền hoạt động kinh doanh ($CFO$), chi phí sản xuất ($PROD$) và chi phí hữu ích/tùy ý ($DISEXP$).
QTLN dựa trên cơ sở dồn tích (AEM) Mô hình dồn tích không đổi qua thời gian Healy (1985); DeAngelo (1986) Giả định dồn tích không điều chỉnh ($NDA$) bằng 0 hoặc không đổi giữa hai năm liên tiếp.
Mô hình kiểm soát biến động kinh doanh Jones (1991) Sử dụng biến đổi doanh thu ($\Delta REV$) và tài sản cố định ($PPE$) để ước tính $NDA$ và tách biệt dồn tích điều chỉnh ($DA$).
Mô hình Jones điều chỉnh doanh thu bằng tiền Dechow, Sloan và Sweeney (1995) Khắc phục hạn chế của Jones (1991) bằng cách trừ đi khoản thay đổi phải thu ($\Delta AR$) khỏi thay đổi doanh thu.
Mô hình dồn tích kết hợp hiệu quả hoạt động Kothari, Leone và Wasley (2005) Bổ sung biến tỷ suất sinh lời trên tài sản ($ROA_{t-1}$) vào mô hình Jones điều chỉnh.
Mô hình dòng tiền phi tuyến và đặc thù châu Á Jeter và Shivakumar (1999); Yoon và cộng sự (2006) Sử dụng dòng tiền hoạt động theo quý/năm hoặc các khoản thu - chi tiền mặt thực tế cho thị trường châu Á.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu kiểm tra tính phù hợp của các mô hình đo lường dồn tích đưa ra nhiều quan điểm: Phạm Thị Bích Vân (2012) cho rằng mô hình Jones (1991) không phù hợp; Nguyễn Hà Trang (2014) và Nguyễn Anh Hiền và Phạm Thành Trung (2015) ủng hộ mô hình Jones điều chỉnh (2005); trong khi Vo và Dương (2017) xác nhận mô hình Jones (1991) và Jones điều chỉnh (2005) là phù hợp nhất. Tác giả luận án lựa chọn mô hình Jones (1991) đại diện cho hướng dồn tích (AEM) vì đây là mô hình gốc xây dựng trên các công ty sản xuất công nghiệp, đồng thời áp dụng mô hình Roychowdhury (2006) để đo lường QTLN qua hoạt động kinh tế (REM).

Các hướng nghiên cứu về nhân tố tác động đến quản trị lợi nhuận

Tổng quan tài liệu của luận án chỉ ra ba nhóm nhân tố tác động chính:

  1. Nhóm đặc điểm quản trị công ty:

    • Hướng tiếp cận đặc điểm riêng lẻ: Các công trình quốc tế (Chtourou và cộng sự, 2001; Klein, 2002; Xie và cộng sự, 2003; Ebrahim, 2007; Murhadi, 2010; Gulzar và Wang, 2011; Swastika, 2013; Soliman và Ragab, 2013) và công trình tại Việt Nam (Nguyễn Trí Tri, 2013; Nguyễn Trọng Nguyên, 2015; Nguyễn Mạnh Hà, 2016; Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016; Essa và cộng sự, 2016; Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp, 2017; Nguyễn Hà Linh, 2017; Phạm Thị Kiều Trang, 2017) cho thấy kết quả mâu thuẫn. Ví dụ, thành viên độc lập HĐQT có tác động giảm QTLN trong nghiên cứu của Xie và cộng sự (2003) và Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), nhưng không có tác động trong nghiên cứu của Klein (2002), Ngô Hoàng Điệp và Bùi Văn Dương (2017), và Nguyễn Hà Linh (2017).
    • Hướng tiếp cận nhân tố tổng hợp: Carcello và cộng sự (2006) tổng hợp 6 đặc điểm QTCT mạnh; Kang và Kim (2012) tại Hàn Quốc xây dựng chỉ số HĐQT tổng hợp từ 5 đặc điểm; Hassan và Ahmed (2012) tại Nigeria xây dựng chỉ số tổng hợp BKS từ 3 đặc điểm; Bajra và Cadez (2017) đánh giá chất lượng HĐQT và chất lượng kiểm toán nội bộ qua thang đo 0-5. Tại Việt Nam, Hoang và cộng sự (2016) nghiên cứu nhân tố tổng hợp đại diện cho sự đa dạng chức năng và cơ cấu của HĐQT.
  2. Nhóm đặc điểm công ty: Cấu trúc vốn và tỷ lệ nợ (Jensen, 1986; Watts và Zimmerman, 1986; Jelinek, 2007; Akbari và cộng sự, 2013; An và cộng sự, 2013; Waweru và Riro, 2013; Zamri và cộng sự, 2013; Bassiouny, 2016); Quy mô công ty (Iskandar và cộng sự, 2006; Alves, 2012; Swastika, 2013; Ali và cộng sự, 2015).

  3. Nhóm hiệu quả hoạt động và yếu tố khác: Dòng tiền hoạt động kinh doanh (Peasnell và cộng sự, 2005; Bowen và cộng sự, 2008; Moradi và cộng sự, 2012); Tỷ suất sinh lời và tăng trưởng (Lee và cộng sự, 2005); Lợi nhuận trên mỗi cổ phần EPS (Ohlson, 1995; Jordan và cộng sự, 2010); Giá trị vốn hóa thị trường (Cohen, 2008); Kiểm toán Big4 (Chen và cộng sự, 2005; Alzoubi, 2016); Động cơ chính sách thuế tại Việt Nam (Bùi Thị Mai Hoài và Nguyễn Thị Tuyết Hoa, 2015; Đặng Ngọc Hùng, 2015).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Từ việc tổng kết các công trình trước, luận án xác định hai khoảng trống nghiên cứu trọng tâm:

  1. Thiếu vắng các nghiên cứu sử dụng nhân tố tổng hợp đại diện cho HĐQT và BKS để khắc phục tình trạng kết quả xung đột, không đồng nhất từ các nghiên cứu xem xét đặc điểm riêng lẻ tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
  2. Chưa có công trình khoa học nào khảo sát chuyên sâu hành vi QTLN và tác động của cơ chế QTCT trên mẫu dữ liệu dành riêng cho các công ty sản xuất niêm yết, mặc dù đây là nhóm ngành chiếm tỷ trọng đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GDP nhưng lại có chất lượng thông tin tài chính thấp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Các lý thuyết nền tảng

Luận án vận dụng hệ thống 5 lý thuyết cơ bản và 1 lý thuyết bổ trợ để xây dựng giả thuyết và giải thích kết quả nghiên cứu:

  • Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Phản ánh mâu thuẫn lợi ích bắt nguồn từ sự phân tách giữa quyền sở hữu (cổ đông) và quyền điều hành (nhà quản lý). Nhà quản trị có xu hướng can thiệp vào các con số kế toán nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân, do đó HĐQT và BKS đóng vai trò là cơ chế giám sát nhằm hạn chế chi phí đại diện và hành vi cơ hội.
  • Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory): Giải thích tình trạng thông tin bất cân xứng giữa ban điều hành và các nhà đầu tư bên ngoài. Cơ chế QTCT vững mạnh giúp phát đi tín hiệu về tính trung thực của báo cáo tài chính.
  • Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependency Theory): HĐQT và BKS được xem như kênh kết nối doanh nghiệp với các nguồn lực thiết yếu bên ngoài. Quy mô, kinh nghiệm và năng lực chuyên môn của các thành viên gia tăng năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro.
  • Lý thuyết các bên có liên quan (Stakeholder Theory): Doanh nghiệp không chỉ chịu trách nhiệm trước cổ đông mà còn đối với nhà cung cấp, khách hàng, chủ nợ và cơ quan nhà nước; thông tin kế toán minh bạch giúp dung hòa lợi ích của các bên.
  • Lý thuyết hành vi (Behavioral Theory): Giải thích việc nhà quản lý lựa chọn thời điểm và phương thức công bố thông tin tài chính dựa trên mục tiêu chủ quan.
  • Lý thuyết tới hạn (Critical Mass Theory): Kế thừa từ Granovetter (1978) và Kramer và cộng sự (2006), luận án lập luận rằng các đặc điểm quản trị riêng lẻ nếu đứng độc lập sẽ chưa đạt ngưỡng tạo ra sự thay đổi, nhưng khi kết hợp lại thành một nhân tố tổng hợp hoàn chỉnh thì sẽ phát huy hiệu quả giám sát làm giảm hành vi QTLN.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án triển khai phương pháp nghiên cứu hỗn hợp theo tuần tự khám phá (Sequential exploratory mixed method):

Nghiên cứu định tính (Khám phá cấu trúc nhân tố tổng hợp qua phỏng vấn sâu)
  1. Phương pháp nghiên cứu định tính:

    • Kỹ thuật: Phỏng vấn sâu sử dụng câu hỏi mở.
    • Đối tượng tham gia: 3 nhóm chuyên gia am hiểu sâu về kế toán và QTCT tại TP. Hồ Chí Minh, gồm giảng viên các trường đại học, kế toán trưởng và các nhà quản lý có trên 10 năm kinh nghiệm công tác.
    • Kết quả: Xác định cấu trúc của hai nhân tố tổng hợp đại diện QTCT phù hợp với thực tiễn Việt Nam và Thông tư 121/2012/TT-BTC:
      • Nhân tố tổng hợp HĐQT: Gồm 5 đặc điểm (quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, trình độ chuyên môn tài chính kế toán, số lần họp, sự không kiêm nhiệm hai chức danh Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành).
      • Nhân tố tổng hợp BKS: Gồm 4 đặc điểm (quy mô BKS, tỷ lệ thành viên độc lập, trình độ chuyên môn tài chính kế toán, số lần họp).
  2. Phương pháp nghiên cứu định lượng:

    • Dữ liệu và mẫu: Dữ liệu bảng gồm 290 quan sát - năm thu thập từ các CTSXNY trên HOSE và HNX giai đoạn 2012 - 2016.
    • Đo lường biến phụ thuộc:
      • Biến $DA$ (quản trị lợi nhuận dồn tích): Xác định bằng chênh lệch giữa tổng dồn tích ($TA$) và dồn tích không điều chỉnh ($NDA$) theo mô hình Jones (1991):

$$\frac{TA_{it}}{A_{it-1}} = \alpha_i \frac{1}{A_{it-1}} + \beta_{1i} \frac{\Delta REV_{it}}{A_{it-1}} + \beta_{2i} \frac{PPE_{it}}{A_{it-1}} + \epsilon_{it}$$

 + Biến $REM$ (quản trị lợi nhuận qua hoạt động kinh tế): Đo lường theo mô hình Roychowdhury (2006) thông qua độ lệch bất thường của dòng tiền hoạt động ($CFO$), chi phí sản xuất ($PROD$) và chi phí tùy ý ($DISEXP$).
  • Quy trình phân tích: Thống kê mô tả, phân tích ma trận tương quan; tiến hành các kiểm định lựa chọn mô hình ước lượng dữ liệu bảng phù hợp: kiểm định F (so sánh Pooled OLS và FEM), kiểm định Breusch-Pagan LM (so sánh Pooled OLS và REM), kiểm định Hausman (so sánh FEM và REM). Tiếp đó, thực hiện kiểm định các khuyết tật: đa cộng tuyến (hệ số VIF), phương sai sai số thay đổi, hiện tượng tự tương quan (kiểm định Wooldridge). Cuối cùng, thực hiện hồi quy với mô hình khắc phục khuyết tật tương ứng cho từng phương trình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu học thuật trong nước và quốc tế liên quan đến hai chủ đề trọng tâm: các phương pháp đo lường hành vi QTLN và các nhân tố ảnh hưởng đến QTLN.

  • Về mô hình đo lường: Luận án phân tích sự phát triển từ mô hình dồn tích sơ khai của Healy (1985) và DeAngelo (1986), qua bước cải tiến của Jones (1991) khi đưa các biến đổi về doanh thu và tài sản cố định vào phương trình, đến các mô hình Jones điều chỉnh của Dechow và cộng sự (1995) và Kothari và cộng sự (2005), cũng như mô hình dòng tiền của Jeter và Shivakumar (1999) và mô hình Yoon và cộng sự (2006). Đồng thời, chương 1 phân tích mô hình REM của Roychowdhury (2006).
  • Về nhân tố tác động: Tác giả chỉ ra tính không nhất quán trong các nghiên cứu đánh giá đặc điểm riêng lẻ của HĐQT và BKS, từ đó giới thiệu các nghiên cứu quốc tế chuyển hướng sang nhân tố tổng hợp (Carcello và cộng sự, 2006; Kang và Kim, 2012; Hassan và Ahmed, 2012; Bajra và Cadez, 2017). Tác giả tổng thuật ảnh hưởng của cấu trúc vốn, quy mô công ty, hiệu quả hoạt động và công ty kiểm toán Big4.
  • Kết luận chương xác lập khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam về nhân tố tổng hợp QTCT và việc thiếu vắng dữ liệu chuyên biệt về các công ty sản xuất niêm yết.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 thiết lập nền tảng lý luận cho luận án thông qua việc làm rõ các khái niệm, cơ chế và khung lý thuyết:

  • Trình bày định nghĩa QTCT theo thông lệ quốc tế và cơ cấu QTCT tại Việt Nam theo Thông tư 121/2012/TT-BTC, gồm 4 bộ phận: Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, BKS và Ban điều hành.
  • Phân tích bản chất và động cơ của hành vi QTLN, phân loại chi tiết hai phương thức: QTLN trên cơ sở dồn tích (AEM) thông qua can thiệp vào các ước tính kế toán, và QTLN thông qua hoạt động kinh tế thực (REM) thông qua điều chỉnh chính sách bán hàng, tăng cường sản xuất quá mức để giảm giá thành đơn vị, hoặc cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển ($R&D$), chi phí quảng cáo, bán hàng.
  • Trình bày chi tiết 5 lý thuyết nền tảng (Đại diện, Tín hiệu, Phụ thuộc nguồn lực, Các bên liên quan, Hành vi) làm cơ sở giải thích cơ chế kiểm soát của HĐQT và BKS đối với hành vi cơ hội của nhà quản trị.
  • Phân tích các yếu tố bên trong (lương thưởng, nhu cầu huy động vốn, cấu trúc sở hữu, đặc điểm HĐQT, BKS) và các yếu tố bên ngoài (khung pháp lý, chất lượng kiểm toán độc lập) tác động đến hành vi QTLN.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu hỗn hợp:

  • Mô tả quy trình nghiên cứu định tính: Xây dựng dàn bài phỏng vấn sâu gửi tới 3 nhóm chuyên gia (giảng viên, kế toán trưởng, nhà quản trị) nhằm chuẩn hóa thang đo nhân tố tổng hợp HĐQT (5 chỉ tiêu) và BKS (4 chỉ tiêu).
  • Thiết lập hai phương trình hồi quy đa biến cho hai dạng hành vi QTLN:
    • Phương trình hồi quy 1: Biến phụ thuộc là dồn tích điều chỉnh ($DA$) theo mô hình Jones (1991).
    • Phương trình hồi quy 2: Biến phụ thuộc là quản trị lợi nhuận qua hoạt động kinh tế ($REM$) theo mô hình Roychowdhury (2006).
    • Các biến độc lập chính: Biến nhân tố tổng hợp HĐQT và biến nhân tố tổng hợp BKS.
    • Các biến kiểm soát: Quy mô doanh nghiệp (Size), đòn bẩy tài chính (Lev), tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), kiểm toán độc lập Big4.
  • Quy định tiêu chuẩn xử lý dữ liệu bảng, các bước kiểm định lựa chọn mô hình giữa Pooled OLS, FEM và REM, cùng quy trình kiểm định các khuyết tật mô hình (VIF, Wooldridge test, kiểm định phương sai sai số thay đổi).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 4 báo cáo kết quả kiểm định thực nghiệm và thảo luận học thuật:

  • Kết quả định tính: Tổng hợp ý kiến chuyên gia, khẳng định hai nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS phản ánh đầy đủ năng lực giám sát QTCT tại các CTSXNY Việt Nam.
  • Kết quả thống kê mô tả: Phản ánh thực trạng biến động dồn tích ($DA$) và hành vi can thiệp hoạt động kinh tế ($REM$) của các CTSXNY giai đoạn 2012-2016.
  • Phân tích tương quan: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong phương trình hồi quy 1 và 2 cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
  • Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình:
    • Đối với phương trình 1 (biến phụ thuộc $DA$): Sau khi thực hiện các kiểm định F, LM, Hausman và kiểm định khuyết tật, mô hình Pooled OLS xuất hiện hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan; tác giả sử dụng mô hình Pooled OLS với sai số chuẩn vững (Pooled OLS - Robust) để biện luận kết quả.
    • Đối với phương trình 2 (biến phụ thuộc $REM$): Các kiểm định lựa chọn mô hình cho thấy mô hình tác động cố định (FEM - Fixed Effects Model) là phù hợp nhất để khắc phục các khuyết tật dữ liệu.
  • Phát hiện nghiên cứu: Biến nhân tố tổng hợp HĐQT có mối tương quan âm và có ý nghĩa thống kê đối với cả hành vi QTLN qua dồn tích ($DA$) và QTLN qua hoạt động kinh tế ($REM$). Điều này chứng minh rằng khi HĐQT có quy mô hợp lý, gia tăng tỷ lệ thành viên độc lập, duy trì tần suất họp đầy đủ, đảm bảo trình độ chuyên môn tài chính và tách biệt hai chức danh Chủ tịch - Tổng giám đốc thì mức độ can thiệp vào lợi nhuận giảm đi rõ rệt. Tác động của nhân tố tổng hợp BKS và các biến kiểm soát được bàn luận, đối chiếu với các bằng chứng thực nghiệm quốc tế.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 5 đúc kết kết quả nghiên cứu và đề xuất các khuyến nghị chính sách:

  • Tổng kết các mục tiêu đã hoàn thành về mặt lý luận và thực tiễn.
  • Đề xuất các hàm ý chính sách đối với các CTSXNY: Cơ cấu lại HĐQT theo hướng nâng cao tỷ lệ thành viên độc lập thực chất, tuyển chọn thành viên có chuyên môn tài chính - kế toán, duy trì số lượng phiên họp định kỳ hiệu quả, chấm dứt tình trạng kiêm nhiệm chức danh Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành nhằm tăng cường tính độc lập trong kiểm soát.
  • Đề xuất các hàm ý đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): Rà soát, bổ sung các chế tài xử phạt nghiêm minh đối với hành vi bóp méo số liệu kế toán; hoàn thiện quy chế QTCT tiệm cận thông lệ quốc tế; tăng cường giám sát việc công bố thông tin quản trị của doanh nghiệp sản xuất.
  • Chỉ rõ các giới hạn của đề tài và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án đóng góp vào hệ thống tri thức khoa học về mối quan hệ giữa QTCT và hành vi QTLN tại thị trường chứng khoán mới nổi. Kết quả nghiên cứu khẳng định nhân tố tổng hợp HĐQT với đầy đủ các thành phần bổ trợ lẫn nhau có vai trò hạn chế hành vi QTLN (cả hình thức dồn tích và hoạt động kinh tế), nâng cao chất lượng báo cáo tài chính.
  • Bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho Lý thuyết tới hạn (Critical Mass Theory) trong lĩnh vực kế toán - quản trị: chứng minh rằng việc xem xét tập hợp các đặc điểm quản trị dưới dạng nhân tố tổng hợp mang lại kết quả giải thích nhất quán và hữu hiệu hơn so với việc tiếp cận từng đặc điểm riêng lẻ vốn mang lại nhiều mâu thuẫn trong các nghiên cứu trước đây.
  • Cung cấp nền tảng lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo trong việc ứng dụng chỉ số tổng hợp để đánh giá cơ chế quản trị công ty tại các thị trường đang phát triển.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng về hành vi QTLN tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam, hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở Giao dịch Chứng khoán) trong việc xây dựng, sửa đổi và thực thi các quy chế quản trị công ty, cũng như ban hành các chế tài ràng buộc trách nhiệm công bố thông tin.
  • Cung cấp công cụ hữu ích cho các công ty kiểm toán và kiểm toán viên độc lập trong việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán số 315 (VSA 315). Khi doanh nghiệp có chỉ số tổng hợp HĐQT cao, kiểm toán viên có thể đánh giá sơ bộ môi trường kiểm soát nội bộ hoạt động hiệu lực, rủi ro sai sót trọng yếu từ hành vi QTLN thấp hơn.
  • Giúp các doanh nghiệp sản xuất niêm yết nhận thức rõ tầm quan trọng của việc hoàn thiện cấu trúc HĐQT nhằm kiểm soát hành vi cơ hội của ban điều hành, gia tăng độ tin cậy của thông tin kế toán và bảo vệ quyền lợi cổ đông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Mẫu nghiên cứu mới chỉ tập trung vào nhóm công ty sản xuất niêm yết trên HOSE và HNX với quy mô 290 quan sát - năm, chưa bao quát các ngành nghề kinh doanh phi tài chính khác như thương mại, dịch vụ, bất động sản, xây dựng.
  • Phạm vi thời gian nghiên cứu dừng lại ở giai đoạn 2012 - 2016 do giới hạn thu thập dữ liệu báo cáo tài chính và báo cáo quản trị đầy đủ tại thời điểm thực hiện đề tài.
  • Việc xác định các thành phần của nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS phụ thuộc vào quy định pháp lý tại thời điểm nghiên cứu (Thông tư 121/2012/TT-BTC) và mức độ minh bạch của thông tin tự nguyện công bố trên các báo cáo thường niên.

Hướng nghiên cứu trong tương lai

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các giai đoạn tiếp theo sau năm 2016 khi có các khung pháp lý mới về quản trị công ty được ban hành (như Nghị định 71/2017/NĐ-CP và Luật Doanh nghiệp mới).
  • Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các ngành nghề kinh doanh khác hoặc thực hiện các nghiên cứu so sánh đối chiếu đa ngành để kiểm định tính ổn định của nhân tố tổng hợp QTCT.
  • Khảo sát bổ sung các đặc điểm quản trị mới như sự hiện diện của Ủy ban kiểm toán trực thuộc HĐQT, cơ cấu sở hữu chi tiết (sở hữu nước ngoài, sở hữu nhà nước) và các yếu tố thuộc về văn hóa doanh nghiệp tác động đến hành vi QTLN.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán, Tài chính: Tham khảo phương pháp nghiên cứu hỗn hợp tuần tự khám phá (kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia với phân tích hồi quy dữ liệu bảng); quy trình vận dụng mô hình Jones (1991) để bóc tách dồn tích điều chỉnh ($DA$) và mô hình Roychowdhury (2006) để ước lượng độ lệch bất thường của các hoạt động kinh tế ($REM$); phương pháp luận áp dụng Lý thuyết tới hạn trong xây dựng các biến tổng hợp.
  • Kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán: Vận dụng bộ tiêu chí đánh giá nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS như một quy trình nhận diện rủi ro ban đầu theo hướng dẫn của Chuẩn mực kiểm toán số 315, từ đó xác định phạm vi, lịch trình và thủ tục kiểm toán cơ bản thích hợp đối với các khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính.
  • Cơ quan quản lý thị trường (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán): Sử dụng các bằng chứng thực nghiệm về tính kiêm nhiệm, thành viên độc lập và tần suất họp HĐQT làm căn cứ rà soát, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn quản trị công ty và thiết lập cơ chế giám sát tuân thủ đối với các tổ chức niêm yết.
  • Hội đồng quản trị và Ban giám đốc các công ty niêm yết: Nhận diện các khiếm khuyết trong cấu trúc quản trị hiện tại để chủ động kiện toàn nhân sự, phân định thẩm quyền và nâng cao chất lượng báo cáo tài chính doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án lại chọn riêng các công ty sản xuất niêm yết (CTSXNY) làm mẫu nghiên cứu?

Khu vực công nghiệp sản xuất đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào tăng trưởng GDP của Việt Nam (quý 1/2018 tăng trưởng 9,7%, đóng góp 3,39 điểm vào GDP chung). Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm trước đó (như Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016) chứng minh đây là nhóm ngành có chất lượng báo cáo tài chính thấp nhất trên thị trường chứng khoán. Hàng loạt vụ việc chênh lệch, sụt giảm lợi nhuận nghiêm trọng sau kiểm toán xảy ra tại các công ty sản xuất niêm yết (Gỗ Trường Thành, HAG, Thép Việt Nam, Thủy sản An Giang...), trong khi các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ khảo sát chung cho toàn bộ thị trường niêm yết mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu cho nhóm ngành này.

2. Nhân tố tổng hợp HĐQT và nhân tố tổng hợp BKS trong luận án gồm những thành phần cụ thể nào?

Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính qua phỏng vấn sâu chuyên gia và quy định tại Thông tư 121/2012/TT-BTC:

  • Nhân tố tổng hợp HĐQT gồm 5 đặc điểm cấu thành: Quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, số lần họp HĐQT, trình độ chuyên môn tài chính - kế toán của thành viên, và sự không kiêm nhiệm hai chức danh Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành (CEO).
  • Nhân tố tổng hợp BKS gồm 4 đặc điểm cấu thành: Quy mô BKS, tỷ lệ thành viên độc lập, trình độ chuyên môn tài chính - kế toán của thành viên, và số lần họp BKS.

3. Tác giả sử dụng các mô hình kinh tế lượng nào để đo lường hai phương thức quản trị lợi nhuận?

  • Đối với quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích (AEM): Luận án sử dụng mô hình Jones (1991) để bóc tách biến dồn tích không điều chỉnh ($NDA$) dựa trên sự thay đổi doanh thu ($\Delta REV$) và nguyên giá tài sản cố định ($PPE$), từ đó xác định biến phụ thuộc là dồn tích điều chỉnh ($DA$).
  • Đối với quản trị lợi nhuận qua các hoạt động kinh tế (REM): Luận án vận dụng mô hình của Roychowdhury (2006) để ước tính mức độ bất thường của ba chỉ tiêu kinh tế: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh ($CFO$), chi phí sản xuất ($PROD$) và chi phí tùy ý ($DISEXP$).

4. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của luận án đưa ra phát hiện chính nào về tác động của nhân tố tổng hợp HĐQT?

Kết quả hồi quy đa biến dữ liệu bảng (sử dụng Pooled OLS - Robust cho phương trình đo lường $DA$ và Fixed Effects Model - FEM cho phương trình đo lường $REM$) chứng minh rằng nhân tố tổng hợp HĐQT có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đối với cả hai hành vi QTLN. Điều này khẳng định một HĐQT đạt chuẩn tổng hợp về quy mô, tỷ lệ độc lập, trình độ chuyên môn, tần suất họp và không kiêm nhiệm chức danh sẽ kiểm soát tốt hành vi cơ hội của nhà điều hành, làm giảm mức độ can thiệp vào lợi nhuận và nâng cao tính minh bạch của thông tin kế toán.

5. Cơ sở khoa học nào dẫn dắt tác giả chuyển hướng từ nghiên cứu đặc điểm riêng lẻ sang nghiên cứu nhân tố tổng hợp?

Các nghiên cứu về đặc điểm riêng lẻ của QTCT trong và ngoài nước đưa ra nhiều kết quả trái chiều và mâu thuẫn, gây khó khăn cho việc giải thích bằng các lý thuyết nền tảng. Khi tác giả tiến hành chạy thử nghiệm đơn biến và đa biến đối với từng đặc điểm riêng lẻ của HĐQT và BKS trên mẫu nghiên cứu, đa số các biến đều không có tương quan với QTLN. Vận dụng Lý thuyết tới hạn (Critical Mass Theory) của Granovetter (1978) và Kramer và cộng sự (2006), tác giả lập luận rằng một đặc điểm riêng lẻ chưa đạt tới ngưỡng giới hạn thì chưa thể tạo ra tác động, nhưng khi tích hợp toàn bộ các đặc điểm thành một nhân tố tổng hợp hoàn chỉnh thì giá trị giám sát sẽ đạt ngưỡng và phát huy hiệu lực kiểm soát hành vi QTLN.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Nhật Phương Diễm đã giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu thông qua việc khám phá và lượng hóa tác động của nhân tố tổng hợp đại diện QTCT đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia và phân tích hồi quy dữ liệu bảng cho 290 quan sát - năm, nghiên cứu khẳng định nhân tố tổng hợp HĐQT có tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê đến cả hai hình thức can thiệp lợi nhuận qua dồn tích và hoạt động kinh tế thực. Kết quả này bổ sung cơ sở thực nghiệm cho Lý thuyết tới hạn trong quản trị công ty tại thị trường chứng khoán mới nổi, đồng thời cung cấp căn cứ thực tiễn cho các cơ quan quản lý, kiểm toán viên độc lập và doanh nghiệp sản xuất trong việc nâng cao chất lượng công bố thông tin tài chính.