Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 5 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận của Ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm về lợi nhuận của Ngân hàng thƣơng mại Một hệ thống ngân hàng bền vững được xây dựng dựa trên lợi nhuận và nguồn vốn dồi dào. Lợi nhuận chính là thước đo dùng để đo lường vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường tài chính và hiệu quả quản lí của các nhà quản trị.
Lợi nhuận cho phép các ngân hàng duy trì ở một mức độ rủi ro nhất định, mang lại một lá chắn chống lại rủi ro trong ngắn hạn. Lợi nhuận được thể hiện dưới dạng lợi nhuận giữ lại, thường là một trong các nguồn bổ sung vốn quan trọng nhất. Lợi nhuận chưa phân phối là kết quả cuối cùng thể hiện tác động ròng của các chính sách và hoạt động trong năm tài chính của ngân hàng. Sự ổn định và tăng trưởng của lợi nhuận giữ lại là những tín hiệu tốt nhất về hiệu quả hoạt động kinh doanh trong quá khứ và tương lai của ngân hàng (Van Greuning & Brajovic-Bratanovic 1999).
Việc xem xét lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại và việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời giúp các nhà quản lí, điều hành của ngân hàng hiểu được hiệu quả trong hoạt động, điểm mạnh, điểm yếu về tài chính, … của ngân hàng để đưa ra các quyết định điều chỉnh mang tính kịp thời, phù hợp nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và tăng trưởng doanh thu bền vững. Lợi nhuận ngân hàng tăng giúp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng được mở rộng, từ đó mang lại lợi ích cho cổ đông, cải thiện phúc lợi và động viên cho nhân viên, duy trì tổ chức ổn định và gia tăng uy tín cho ngân hàng (Nguyễn Đăng Dờn, 2014). Như vậy, lợi nhuận chính là phần thu nhập còn lại sau khi trừ đi các khoản chi phí. Các NHTM có lợi nhuận cao tương ứng với việc kinh doanh có hiệu quả, đồng thời có một lượng vốn lớn để đầu tư vào công nghệ đẩy mạnh hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Việc các NHTM đang có lãi tốt cũng là một tín hiệu để người tiêu dùng yên tâm đầu tư và gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, lợi nhuận cao 6 chưa chắc đã là điều tốt, bởi đối với những NHTM chấp nhận rủi ro cao thì lợi nhuận trong giai đoạn này có thể cao nhưng rủi ro tiềm ẩn lâu dài trong tương lai thì không phải ai cũng thấy ngay được. Cuối cùng, việc xem xét, đánh giá lợi nhuận của ngân hàng cần thiết phải xét mối liên hệ giữa lợi nhuận với các yếu tố khác như chi phí, tổng tài sản, nguồn vốn. Các chỉ tiêu đo lƣờng lợi nhuận của Ngân hàng thƣơng mại 2.
Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Asset – ROA) “ROA là chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của một ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế, nói cách khác ROA thể hiện rằng một đồng tài sản của ngân hàng sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROA càng cao thì khả năng sinh lời càng cao, điều đó cho thấy ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lí và ngược lại. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp ROA cao đều là tốt, bởi vì lợi nhuận luôn đi kèm theo với rủi ro. ROA được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản bình quân của ngân hàng” (Ngô Kim Phượng và Lê Hoàng Vinh, 2021).
Cách tính ROA là: 2. Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE) “ROE là chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của ngân hàng, phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu vào ngân hàng đem lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp. ROE càng cao thì càng có lợi cho ngân hàng, cho thấy ngân hàng đang sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, cơ cấu nguồn vốn hợp lí và ngược lại. ROE đánh giá lợi ích mà các cổ đông có được từ nguồn vốn bỏ ra.
ROE được 7 tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu bình quân của ngân hàng” (Ngô Kim Phượng và Lê Hoàng Vinh, 2021). Cách tính ROE là: 2. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin – NIM) NIM được tính bằng cách lấy thu nhập lãi thuần chia cho tổng tài sản sinh lãi bình quân của ngân hàng, là chỉ số phản ánh số tiền mà một ngân hàng thu được từ lãi của các khoản cho vay với số tiền mà ngân hàng đang trả lãi cho khách hàng có khoản tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng. NIM giúp đánh giá mức độ phát triển và khả năng sinh lời của một ngân hàng.
Công thức tính NIM là: 2. Cơ sở lý thuyết về các nhân tố tác động lên lợi nhuận của Ngân hàng thƣơng mại 2. Các nhân tố bên trong 2. Quy mô ngân hàng (SIZE) Theo như nghiên cứu của Anbar và Alper (2011), Sherish Gul và cộng sự (2011), Ong Tze San và cộng sự (2013), Saeed Sazzad Jeris (2021), … các ngân hàng với quy mô lớn thường có tiềm lực mạnh về tài chính và nhân lực nên có khả năng đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh, cung cấp đa dạng các sản phẩm tín dụng và phi tín dụng.
Bên cạnh đó, các ngân hàng này có dòng tiền ổn định nên có lợi thế hơn so với các ngân hàng có quy mô khiêm tốn trong việc đạt được mục tiêu lợi nhuận. Đồng thời, các ngân hàng có quy mô nhỏ sẽ dễ xảy ra tình trạng phá sản hơn khi thị trường ngân hàng bị biến động. Ngược lại, với các nghiên cứu của Pasiouras và Kosmidou (2007), Sufian và Chong (2009) kết luận rằng có sự tương quan 8 ngược chiều giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận, bởi vì khi ngân hàng mà tăng quy mô sẽ làm tăng chi phí hoạt động kéo theo lợi nhuận giảm xuống nếu như ngân hàng không sử dụng hiệu quả các tài sản mới tăng thêm để tạo ra thu nhập. Tỷ lệ chi phí hoạt động (OC) Chi phí hoạt động đặc biệt quan trọng đối với hoạt động hàng ngày của ngân hàng, vì thế mà các ngân hàng cần phải giữ chi phí hoạt động ở mức tối ưu để tối đa hóa lợi nhuận hàng năm.
Nếu chi phí hoạt động không được quản lí hợp lý, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận ngân hàng. Trong trường hợp thu nhập không đổi, chi phí hoạt động càng lớn thì lợi nhuận càng nhỏ. Hoặc tốc độ tăng của thu nhập không bằng tốc độ tăng của chi phí hoạt động cũng sẽ khiến cho lợi nhuận các NHTM bị ảnh hưởng. Nghiên cứu của Sufian và Chong (2009), Al – Homaidi và các cộng sự (2018), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) cho thấy tỷ lệ chi phí hoạt động xảy ra tương quan ngược chiều với lợi nhuận của ngân hàng trong một số mô hình.
Ngược lại với các nghiên cứu của Ong Tze San và cộng sự (2013), Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2018) thì tỷ lệ chi phí hoạt động cũng có tác động tích cực lên lợi nhuận các NHTM tại Việt Nam. Quy mô vốn chủ sở hữu (CAP) Vốn chủ sở hữu chính là nguồn vốn thuộc sở hữu hợp pháp của ngân hàng, bao gồm chủ yếu là nguồn tiền do chủ sở hữu đầu tư vào khi ngân hàng được thành lập cộng với phần lợi nhuận hoạt động được tạo lập và giữ lại. Nhờ mức vốn chủ sở hữu cao mà các ngân hàng có nguồn vốn cần thiết để đáp ứng các tiêu chuẩn của an toàn vốn đồng thời cũng có thể sử dụng nó để đem cho vay, mang lại lợi nhuận từ nguồn lãi thu được (Lê Tấn Phước và Bùi Xuân Diễn, 2016). Vốn chủ sở hữu cũng là chỉ tiêu quan trọng để phản ánh mức độ đủ vốn của ngân hàng, vốn chủ sở hữu càng lớn thì người gửi tiền càng cảm thấy an toàn khi gửi tiền vào Ngân hàng thương mại.
Vì vậy, vốn chủ sở hữu cũng được coi là cơ sở để tạo niềm tin cho khách hàng đồng thời thể hiện năng lực tài chính, hoạt động của NHTM. Ngoài ra, 9 vốn chủ sở hữu có thể đóng vai trò là lá chắn bảo vệ ngân hàng khi môi trường kinh doanh thay đổi theo chiều hướng bất lợi. Nhìn chung, đa số ngân hàng mà có nguồn vốn của chủ sở hữu lớn sẽ tạo ra lợi nhuận tốt hơn và ngược lại. Nghiên cứu của Ong Tze San và cộng sự (2013), Saeed Sazzad Jeris (2021), Trần Việt Dũng (2014), … đã cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô vốn chủ sở hữu với lợi nhuận ngân hàng.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Sherish Gul và cộng sự (2011), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) lại cho thấy rằng quy mô của vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng ngược chiều đến lợi nhuận NHTM. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) Nợ xấu bao gồm nợ nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 (Theo khoản 8, điều 3 Thông tư 11/2021/TT–NHNN). Tỷ lệ nợ xấu là chỉ số quản lý rủi ro tín dụng, đồng thời nó phản ánh chất lượng tín dụng của các NHTM. Tỷ lệ này được xác định bằng cách lấy tổng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay, vì vậy nó phản ánh chính xác cách các NHTM quản lí rủi ro tín dụng trong chính ngân hàng của mình.
Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) cho rằng tỷ lệ nợ xấu chính là thước đo mức độ rủi ro vỡ nợ tín dụng mà các ngân hàng phải đối mặt, có tác động tiêu cực lên lợi nhuận ngân hàng về mặt thống kê. Tuy nhiên Nguyễn Ngọc Minh Đan và cộng sự (2020) lại đưa ra kết luận là tỷ lệ nợ xấu có ảnh hưởng tích cực lên hiệu quả tài chính của các NHTM. Nhận thấy rằng, khi tỷ lệ nợ xấu càng lớn, chất lượng các khoản vay của ngân hàng sẽ càng thấp dẫn đến khả năng ngân hàng sẽ phải đứng trước nguy cơ cao bị giảm doanh thu và lợi nhuận do khách hàng không hoàn trả được tiền lãi và khoản vay đúng hạn. Các nhân tố bên ngoài 2.
Tỷ lệ lạm phát (INF) Theo Mankiw, lạm phát là sự gia tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian.