Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vườn quốc gia (VQG) Tà Đùng được thành lập trên cơ sở chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng theo Quyết định số 185/QĐ-TTg ngày 08/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ, nằm trên địa bàn xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông với tổng diện tích tự nhiên là 21.806,80 ha. Khu vực này sở hữu hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp đặc trưng của vùng Cao nguyên, lưu giữ nguồn tài nguyên sinh vật phong phú cùng nhiều loài động, thực vật quý hiếm, nguy cấp. Tuy nhiên, tài nguyên rừng tại đây đang đứng trước sức ép lớn từ các hoạt động phát triển kinh tế và sinh kế của cộng đồng dân cư địa phương sống ở vùng đệm. Người dân chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm đa số là người Mạ), đời sống phụ thuộc chặt chẽ vào rừng nhưng quỹ đất nông nghiệp canh tác lại rất hạn chế, bạc màu, thiếu nước tưới tiêu và năng suất cây trồng thấp. Tình trạng chuyển đổi đất rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã và thu hái lâm sản ngoài gỗ trái phép diễn ra phức tạp. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về bảo vệ rừng còn thiếu đồng bộ, chế tài xử lý chưa đủ mạnh và năng lực thực thi của đội ngũ quản lý còn gặp nhiều trở ngại.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu tổng quát: Góp phần đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư đối với công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng tại VQG Tà Đùng.
  2. Mục tiêu cụ thể:
  • Mục tiêu 1: Đánh giá công tác quản lý, bảo vệ rừng của VQG Tà Đùng.
  • Mục tiêu 2: Phân tích những ảnh hưởng và tìm ra nguyên nhân dẫn đến sự hình thành những hoạt động sinh kế, đặc biệt là những ảnh hưởng tiêu cực trong sinh kế của người dân vùng đệm đến hệ sinh thái rừng.
  • Mục tiêu 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý bảo vệ rừng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương, giảm thiểu tác động bất lợi của cộng đồng dân cư vùng đệm đến hệ sinh thái rừng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động sinh kế của người dân tác động đến tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ rừng tại VQG Tà Đùng.
  • Phạm vi nội dung: Các hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng và hiện trạng quản lý bảo vệ rừng tại đơn vị.
  • Phạm vi không gian: Thôn 2, xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông (được chọn làm điểm mẫu điều tra thu thập thông tin và số liệu).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện thu thập và phân tích dữ liệu từ tháng 3/2023 đến tháng 5/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các khung lý luận và khái niệm nền tảng trong quản lý tài nguyên và phát triển nông thôn:

  • Khái niệm sinh kế theo định nghĩa của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID): Sinh kế là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được, kết hợp với các quyết định và hoạt động thực thi nhằm kiếm sống và đạt được mục tiêu, ước nguyện dựa trên các nguồn lực tài nguyên, vốn, lao động và kỹ thuật.
  • Khái niệm vùng đệm theo quy chế quản lý rừng đặc dụng: Vùng rừng, đất hoặc đất có mặt nước nằm sát ranh giới khu bảo tồn, có chức năng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm hại đến khu rừng đặc dụng.
  • Khái niệm tài nguyên rừng và hệ thống rừng đặc dụng tại Việt Nam (gồm Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, Khu văn hóa - lịch sử và môi trường).
  • Khung pháp lý và chính sách: Quyết định số 185/QĐ-TTg ngày 08/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 2860/QĐ-BNN-TCLN năm 2022 và Quyết định số 1558/QĐ-BNN-TCLN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về công bố hiện trạng rừng toàn quốc; chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên và chính sách giao khoán quản lý bảo vệ rừng.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp kế thừa số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp chính thống từ Hạt Kiểm lâm, Ban quản lý VQG Tà Đùng, Chi cục Kiểm lâm, Phòng Thống kê và Ủy ban nhân dân xã Đắk Som về hiện trạng tài nguyên rừng, diễn biến rừng năm 2022, tổ chức nhân sự và hồ sơ vi phạm lâm luật.
  • Phương pháp thu thập thông tin ngoại nghiệp:
    • Phỏng vấn sâu các đối tượng quản lý và chuyên trách: 02 cán bộ Ban quản lý và trạm kiểm lâm VQG, 05 cán bộ Hạt Kiểm lâm, 02 cán bộ UBND xã, 01 trưởng thôn Thôn 2 và 05 người dân địa phương.
    • Điều tra xã hội học hộ gia đình: Thực hiện khảo sát bằng phiếu phỏng vấn bán cấu trúc đối với mẫu nghiên cứu gồm 30 hộ gia đình phân bố rải rác tại Thôn 2, xã Đắk Som.
    • Khảo sát thực địa hiện trường: Quan sát các khu vực rừng bị lấn chiếm làm nương rẫy, các điểm khai thác gỗ, củi, các tuyến đường vận chuyển lâm sản và rác thải dân sinh xâm nhập vào rừng.
  • Phương pháp xử lý và phân tích thông tin nội nghiệp:
    • Thống kê mô tả, tổng hợp và phân loại thông tin theo các nhóm chủ đề sinh kế và quản lý.
    • Sử dụng mô hình ma trận SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
    • Xây dựng sơ đồ Venn để đánh giá vai trò, mức độ ảnh hưởng và mối quan hệ giữa các bên liên quan (Ban quản lý VQG, Hạt Kiểm lâm, chính quyền xã, công an, tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư thôn).
    • Ứng dụng phần mềm Microsoft Excel để nhập liệu, xử lý thống kê toán học, tính toán tỷ lệ phần trăm và vẽ đồ thị; phần mềm Word để trình bày văn bản.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tổng kết cơ sở lý luận về sinh kế nông thôn, khái niệm vùng đệm và tài nguyên rừng. Tác giả dẫn chứng báo cáo của FAO cho biết rừng bao phủ 31,2% diện tích đất liền toàn cầu và thế giới đã mất khoảng 100 triệu ha rừng trong 20 năm qua, trong đó khu vực Đông Nam Á mất khoảng 8 triệu ha rừng hàng năm. Tại Việt Nam, theo Quyết định 2860/QĐ-BNN-TCLN năm 2022, tổng diện tích đất có rừng toàn quốc năm 2021 là 14.745.201 ha (rừng tự nhiên: 10.171.757 ha, rừng trồng: 4.573.444 ha), tỷ lệ che phủ đạt 42,02%. Tuy nhiên, rừng tự nhiên tại vùng Tây Nguyên trong vòng 10 năm đã giảm 411.331 ha (bình quân giảm 41,1 nghìn ha/năm), khiến độ che phủ của tỉnh Đắk Nông xuống mức thấp là 38,06%. Chương cũng tổng quan các nghiên cứu thực tiễn của Vũ Xuân Thiện (2015) tại Yên Bái, Thị Thiên An (2016) tại Quảng Trị và Đinh Đức Thuận (2005) về mối quan hệ giữa lâm nghiệp, sinh kế và giảm nghèo, đồng thời giới thiệu khái quát điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái hồ Đray Sáp - Tà Đùng (diện tích mặt nước hồ thủy điện Đồng Nai 3 rộng 3.700 ha với hơn 47 đảo lớn nhỏ) và sự cấp thiết của việc nghiên cứu tại VQG Tà Đùng.

Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả xác định rõ ràng đối tượng khảo sát là hoạt động sinh kế của người dân và công tác quản lý bảo vệ rừng tại VQG Tà Đùng. Không gian nghiên cứu thực địa thu hẹp trọng tâm tại Thôn 2, xã Đắk Som; thời gian triển khai từ tháng 3/2023 đến tháng 5/2023. Quy trình thực hiện gồm các bước kế thừa tài liệu thứ cấp, điều tra chọn mẫu 30 hộ gia đình, phỏng vấn sâu 15 cá nhân giữ các cương vị quản lý và người dân bản địa, kết hợp khảo sát dấu vết hiện trường. Các công cụ xử lý dữ liệu gồm thống kê mô tả trên Excel, phân tích SWOT và lập sơ đồ Venn thể hiện mạng lưới liên kết giữa các bên liên quan trong công tác bảo vệ rừng.

Đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu

Chương trình bày chi tiết các đặc điểm tự nhiên của VQG Tà Đùng: tọa độ địa lý từ 11°47’27” đến 11°59’20” vĩ độ Bắc và từ 107°53’10” đến 108°06’32” kinh độ Đông; nằm trên khối nâng vòm cao nguyên Đắk Nông và Di Linh với đỉnh núi Tà Đùng cao 1.982 m. Địa hình chia thành 3 dạng: núi cao N1 (>1.982 m, chiếm 0,1%), núi trung bình N2 (700 - 1.700 m, chiếm 98,5%), và núi thấp N3 (600 - 700 m, chiếm 1,4%). Thổ nhưỡng gồm 3 nhóm chính: Humic Ferralsols (đất mùn vàng đỏ trên đá phiến sét), Rhodic Ferralsols (đất đỏ vàng trên đá phiến sét) và đất nâu vàng (Fu) trên đá bazan. Khí hậu thuộc vùng nhiệt đới gió mùa cao nguyên, nhiệt độ trung bình năm 21 - 22°C, lượng mưa trung bình năm 2.339 mm (tập trung 90% vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11). Hệ thống thủy văn gồm mạng lưới suối đổ vào sông Đồng Nai (đoạn qua xã dài 25,7 km), sông Krông Nô và hồ chứa thủy điện Đồng Nai 3 có dung tích 1,4 tỷ m³.

Tại điểm điều tra mẫu Thôn 2 (xã Đắk Som), tổng diện tích tự nhiên là 7.411,128 ha; trong đó đất lâm nghiệp chiếm 5.645,40 ha (rừng tự nhiên 4.076,8 ha, rừng trồng 1.865 ha), đất nông nghiệp chỉ có 101,23 ha, đất thổ cư 110,12 ha và đất khác 1.654,378 ha. Thôn có 208 hộ với 857 nhân khẩu, đồng bào dân tộc Mạ chiếm 80,44% (147 hộ), người Kinh có 42 hộ, các dân tộc khác 19 hộ. Lực lượng lao động có 463 người (chiếm 49,43%). Có tới 198/208 hộ làm nông nghiệp và đa số thuộc diện hộ nghèo. Cơ sở hạ tầng y tế, giáo dục và giao thông còn lạc hậu; 3 công trình thủy lợi (Hồ Chum Ia, Hồ Dạ Sre, Đập Sre Pơng) bị xuống cấp và hiệu quả cấp nước tưới tiêu thấp, phụ thuộc lớn vào thời tiết, gây khó khăn cho canh tác nông nghiệp và gia tăng sự phụ thuộc vào rừng.

Kết quả nghiên cứu

Nội dung chương phản ánh toàn diện các số liệu điều tra thực tế tại VQG Tà Đùng và Thôn 2:

  • Thực trạng tài nguyên: Tổng diện tích VQG Tà Đùng là 21.806,80 ha, diện tích đất có rừng là 16.195,46 ha (rừng tự nhiên chiếm 16.049,99 ha hay 73,60%; rừng trồng chiếm 145,47 ha hay 0,67%) và diện tích chưa có rừng là 5.611,34 ha (chiếm 25,73%). Hệ thực vật ghi nhận 1.406 loài bậc cao (89 loài có nguy cơ tuyệt chủng, 69 loài trong Sách đỏ Việt Nam 2007). Hệ động vật có 489 loài thuộc 34 bộ, 119 họ (14 loài đặc hữu, 62 loài Sách đỏ Việt Nam, 201 loài trong Danh lục đỏ IUCN) và là một trong những vùng chim đặc hữu quan trọng với 145 loài chim.
  • Bộ máy tổ chức và nhân sự: Ban quản lý VQG gồm 52 nhân sự (3 trình độ trên đại học, 31 đại học, 13 cao đẳng/trung cấp, 5 sơ cấp; gồm 16 công chức kiểm lâm, 10 viên chức và 26 lao động hợp đồng). Lực lượng Hạt Kiểm lâm trực thuộc có 35 người, bố trí 4 trạm kiểm lâm địa bàn và 1 tổ cơ động.
  • Quản lý bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng: Đơn vị giao khoán 6.030 ha rừng tự nhiên/năm cho 19 tổ (gồm 10 - 14 hộ/tổ), diện tích lực lượng VQG tự bảo vệ là trên 9.908 ha/năm. Thành lập Ban chỉ huy PCCCR gồm 16 người và 5 tổ chữa cháy (5 - 10 người/tổ). Trong giai đoạn 2013 - 2022, toàn Vườn chỉ xảy ra 1 vụ cháy rừng nhỏ vào năm 2013 với diện tích thiệt hại 0,08286 ha.
  • Tình hình xử lý vi phạm pháp luật lâm nghiệp (2013 - 2022): Tổng cộng có 71 vụ vi phạm (bình quân 7 vụ/năm, giảm từ 14 vụ năm 2013 xuống 1 vụ năm 2022). Cơ cấu gồm: vi phạm quy định bảo vệ rừng 19 vụ (26,76%), phá rừng làm nương rẫy 18 vụ (24,94%), khai thác gỗ và lâm sản khác 14 vụ (20,72%), mua bán lâm sản trái phép 13 vụ (19,72%), vi phạm sử dụng đất lâm nghiệp 5 vụ, PCCCR 1 vụ, bảo vệ động vật hoang dã 1 vụ. Hình thức xử lý gồm: 49 vụ xử phạt hành chính và vắng chủ (69,25%), 22 vụ xử lý hình sự (30,75%), tổng tiền phạt đạt 181,6 triệu đồng.
  • Tuyên truyền và nhận thức pháp luật: Khảo sát 30 hộ dân Thôn 2 cho thấy 27 hộ (87,68%) có tham gia họp tuyên truyền, nhưng có tới 25 hộ (87,68%) không nhớ rõ luật và 5 hộ (14,xx%) không biết luật quản lý bảo vệ rừng. Có 20 hộ (80%) cán bộ kiểm lâm hoặc trưởng thôn phải đến tận nhà vận động mới đi họp.
  • Tác động sinh kế của người dân Thôn 2: Điều tra 30 hộ ghi nhận 100% số hộ (30/30) có hoạt động khai thác gỗ, củi; 25/30 hộ phát rừng làm nương rẫy; 25/30 hộ thu hái lâm sản ngoài gỗ (trái xay, trái ươi, phong lan, cây thuốc, mật ong, mây); 20/30 hộ thả rông gia súc vào rừng; 15/30 hộ săn bắn động vật hoang dã trái phép; 10/30 hộ đánh bắt thủy sản bằng chất độc, mìn, kích điện.
  • Nguyên nhân và các bên liên quan: Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sức ép kinh tế thiếu đất sản xuất, nghèo đói, tập quán du canh truyền thống của đồng bào Mạ, cùng với sự lôi kéo của các đối tượng thu mua lâm sản. Sơ đồ Venn chỉ rõ mối quan hệ vừa phối hợp vừa nảy sinh mâu thuẫn trực tiếp giữa cộng đồng dân cư và Ban quản lý VQG.

Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Tác giả đúc kết lại các kết quả nghiên cứu chính về thực trạng tài nguyên rừng và áp lực sinh kế; chỉ ra những hạn chế tồn tại như hiểu biết pháp luật của người dân còn thấp, đất canh tác quá ít khiến nguy cơ lấn chiếm rừng còn hiện hữu, địa hình phức tạp gây trở ngại tuần tra; đề xuất kiến nghị đối với các cấp chính quyền trong việc tăng cường nguồn lực và ban hành chính sách hỗ trợ phát triển sinh kế vùng đệm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể về hiện trạng tài nguyên và các tác động sinh kế tại VQG Tà Đùng thông qua các bảng thống kê sau:

Loại đất, loại rừng Diện tích trong quy hoạch đặc dụng (ha) Diện tích ngoài quy hoạch 3 loại rừng (ha) Tổng diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
A. Diện tích có rừng 16.195,46 206,85 16.195,46 74,27%
- Rừng tự nhiên 16.049,99 205,50 16.049,99 73,60%
- Rừng trồng 145,47 1,35 145,47 0,67%
B. Diện tích chưa có rừng 5.488,30 123,04 5.611,34 25,73%
- Đất trống có cây gỗ tái sinh 71,97 2,27 74,24 0,34%
- Đất trống không có cây gỗ tái sinh 815,05 108,81 923,86 4,24%
- Đất có cây nông nghiệp 1.704,51 77,19 1.781,70 8,17%
Tổng diện tích tự nhiên 21.683,76 329,89 21.806,80 100,00%
Nhóm hành vi vi phạm (2013 - 2022) Số vụ Tỷ lệ (%) Hình thức xử lý vi phạm Số vụ Tỷ lệ (%)
Vi phạm quy định về bảo vệ rừng 19 26,76% Xử phạt hành chính 26 36,62%
Phá rừng trái phép (làm nương rẫy) 18 24,94% Xử lý vắng chủ 23 32,39%
Vi phạm khai thác gỗ và lâm sản khác 14 20,72% Xử lý hình sự 22 30,75%
Mua bán lâm sản trái phép 13 19,72% Chuyển địa phương xử lý 0 0,00%
Các hành vi khác (sử dụng đất, PCCCR, ĐVHD) 7 9,86%
Tổng số vụ vi phạm 71 100,00% Tổng số vụ xử lý 71 100,00%
STT Các hoạt động sinh kế đe dọa tài nguyên rừng Số hộ tham gia (n=30) Tỷ lệ hộ (%) Giới tính tham gia Độ tuổi lao động
1 Khai thác gỗ, củi trái phép 30 100,00% Nam 18 - 60
2 Phát rừng làm nương rẫy 25 83,33% Nam, Nữ Nam: 18 - 55, Nữ: 23 - 45
3 Khai thác lâm sản ngoài gỗ (trái xay, ươi, mật ong...) 25 83,33% Nam, Nữ Nam: 15 - 50, Nữ: 22 - 40
4 Thả rông gia súc không có tổ chức 20 66,67% Nam, Nữ Toàn bộ độ tuổi
5 Săn bắn động vật hoang dã trái phép 15 50,00% Nam 20 - 50
6 Đánh bắt cá bằng mìn, kích điện, chất độc 10 33,33% Nam 17 - 55

Các giải pháp do tác giả đề xuất gồm 3 nhóm chính:

  • Nâng cao năng lực quản lý và thực thi pháp luật: Củng cố bộ máy tổ chức, nâng cao năng lực cho 35 cán bộ kiểm lâm; trang bị bổ sung phương tiện tuần tra, kiểm soát; tăng cường kiểm tra định kỳ 2 - 3 đợt/tháng tại các điểm nóng giáp ranh; xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm và phối hợp liên ngành với công an, chính quyền địa phương.
  • Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống dân cư vùng đệm: Hỗ trợ tập huấn kỹ thuật thâm canh nông nghiệp, cải tạo đất bạc màu; đầu tư nâng cấp hệ thống kênh mương thủy lợi (hồ Chum Ia, hồ Dạ Sre, đập Sre Pơng); hỗ trợ phát triển chăn nuôi có chuồng trại và quy hoạch vùng trồng trọt; mở rộng chính sách giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng để tạo thu nhập ổn định cho người dân.
  • Nâng cao nhận thức cộng đồng: Đổi mới phương thức tuyên truyền pháp luật bảo vệ rừng; xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước bảo vệ rừng cấp thôn/xã có sự tham gia của cộng đồng bản địa; lồng ghép công tác bảo tồn với văn hóa truyền thống của đồng bào Mạ.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc lượng hóa chi tiết mức độ tác động của từng hoạt động sinh kế của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng VQG Tà Đùng sau khi được nâng hạng thành Vườn quốc gia. Nghiên cứu cung cấp bức tranh số liệu sơ cấp xác thực về mức độ hiểu biết pháp luật và nhu cầu kinh tế của người dân Thôn 2, chỉ ra căn nguyên của xung đột bảo tồn - phát triển, bổ sung cứ liệu thực tế cho địa bàn còn ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về lâm sinh và sinh kế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện do tác giả tự xác định:

  • Địa bàn khảo sát chọn mẫu xã hội học chỉ thực hiện tại duy nhất Thôn 2 (xã Đắk Som) với quy mô mẫu 30 hộ gia đình, do đó chưa bao quát được toàn diện đặc điểm kinh tế - xã hội của toàn bộ các thôn, xã khác thuộc vùng đệm VQG Tà Đùng và các khu vực rừng giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng.
  • Thời gian nghiên cứu ngắn (từ tháng 3/2023 đến tháng 5/2023), chưa theo dõi được biến động sinh kế theo tính chu kỳ của toàn bộ các mùa trong năm (đặc biệt là mùa thu hái nông sản và lâm sản trái mùa).
  • Phương pháp phân tích sinh kế dừng lại ở mức độ thống kê mô tả tần suất, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng để kiểm định tương quan giữa mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng với các biến số nhân khẩu học, thu nhập hoặc diện tích đất sản xuất.

Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: Mở rộng phạm vi điều tra mẫu sang các cộng đồng dân cư khác ven hồ thủy điện Đồng Nai 3 và các xã giáp ranh; định lượng hóa giá trị đóng góp của lâm sản ngoài gỗ trong cơ cấu tổng thu nhập hộ gia đình; nghiên cứu mô hình đồng quản lý rừng và đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái gắn với sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Khoa học môi trường và Phát triển nông thôn có thể sử dụng đề tài làm tài liệu tham khảo về phương pháp thiết kế phiếu điều tra sinh kế, kỹ thuật phỏng vấn sâu và phương pháp ứng dụng sơ đồ Venn, ma trận SWOT trong nghiên cứu lâm nghiệp xã hội.
  • Ban quản lý VQG Tà Đùng, Hạt Kiểm lâm và chính quyền xã Đắk Som có thể khai thác trực tiếp số liệu thực trạng sử dụng đất, cơ cấu nhân sự, hồ sơ 71 vụ vi phạm lâm luật giai đoạn 2013 - 2022 và các phát hiện về nhận thức pháp luật của người dân Thôn 2 để xây dựng phương án giao khoán rừng, kế hoạch tuyên truyền và quy hoạch phát triển vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

  • Cơ cấu diện tích rừng và đất lâm nghiệp của VQG Tà Đùng năm 2022 phân bổ như thế nào? Theo số liệu diễn biến rừng năm 2022 trong văn bản, VQG Tà Đùng có tổng diện tích tự nhiên là 21.806,80 ha. Diện tích có rừng là 16.195,46 ha (rừng tự nhiên chiếm 16.049,99 ha tương đương 73,60%; rừng trồng chiếm 145,47 ha tương đương 0,67%). Diện tích chưa có rừng là 5.611,34 ha (chiếm 25,73%), trong đó diện tích đất có cây nông nghiệp lấn chiếm là 1.781,70 ha.

  • Đâu là nguyên nhân kinh tế căn bản dẫn đến việc người dân Thôn 2 xâm phạm tài nguyên rừng VQG Tà Đùng? Thôn 2 có 208 hộ với 857 nhân khẩu (80,44% là người Mạ), trong đó 198 hộ làm nông nghiệp nhưng diện tích đất nông nghiệp của cả thôn chỉ có 101,23 ha (trung bình chưa tới 0,5 ha/hộ). Đất canh tác bị bạc màu, các công trình thủy lợi xuống cấp không bảo đảm nước tưới, dẫn đến năng suất cây trồng thấp. Thu nhập từ nông nghiệp không đủ trang trải cuộc sống quanh năm, buộc đa số hộ dân phải vào rừng khai thác gỗ, củi, săn bắt và thu hái lâm sản ngoài gỗ để đổi lấy lương thực và tiền mặt.

  • Tình hình vi phạm pháp luật lâm nghiệp tại VQG Tà Đùng trong giai đoạn 2013 - 2022 diễn biến ra sao? Trong giai đoạn 2013 - 2022, toàn Vườn ghi nhận 71 vụ vi phạm lâm luật (bình quân 7 vụ/năm). Số vụ vi phạm giảm rõ rệt theo thời gian, từ 14 vụ năm 2013 xuống còn 1 vụ vào năm 2022. Các hành vi phổ biến nhất gồm vi phạm quy định bảo vệ rừng (19 vụ), phá rừng làm nương rẫy (18 vụ), khai thác gỗ và lâm sản trái phép (14 vụ), và mua bán lâm sản trái phép (13 vụ). Cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính và vắng chủ 49 vụ (69,25%), khởi tố hình sự 22 vụ (30,75%), với tổng số tiền phạt thu được là 181,6 triệu đồng.

  • Những hoạt động sinh kế nào của người dân tác động mạnh nhất đến rừng theo kết quả khảo sát 30 hộ dân? Khảo sát tại Thôn 2 cho thấy 100% số hộ (30/30 hộ) tham gia khai thác gỗ và củi trái phép; 83,33% (25/30 hộ) phát rừng làm nương rẫy; 83,33% (25/30 hộ) thu hái lâm sản ngoài gỗ (trái xay, trái ươi, phong lan, cây thuốc, mật ong); 66,67% (20/30 hộ) thả rông gia súc không tổ chức; 50% (15/30 hộ) săn bắn động vật hoang dã; và 33,33% (10/30 hộ) dùng mìn, kích điện, chất độc đánh bắt cá trên sông, suối.

  • Công tác giao khoán bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng tại VQG Tà Đùng được triển khai như thế nào? Vườn quốc gia đã thực hiện hợp đồng khoán bảo vệ 6.030 ha rừng tự nhiên/năm cho 19 tổ nhận khoán (mỗi tổ gồm 10 - 14 hộ dân), diện tích còn lại trên 9.908 ha/năm do lực lượng VQG tự bảo vệ. Về phòng cháy chữa cháy, đơn vị thành lập Ban chỉ huy gồm 16 người và 5 tổ chữa cháy cơ động (5 - 10 người/tổ). Nhờ duy trì nghiêm ngặt công tác tuần tra và phương án phòng cháy, trong 10 năm (2013 - 2022) toàn Vườn chỉ xảy ra 1 vụ cháy rừng vào năm 2013 với diện tích thiệt hại 0,08286 ha.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả H’ Trim đã phản ánh thực trạng tác động sinh kế của cộng đồng cư dân vùng đệm (điển hình tại Thôn 2, xã Đắk Som) đến tài nguyên rừng tại Vườn quốc gia Tà Đùng. Công trình làm rõ mâu thuẫn giữa nhu cầu mưu sinh trong điều kiện diện tích đất canh tác nông nghiệp hạn hẹp của đồng bào Mạ với mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái rừng đặc dụng. Kết quả cho thấy công tác bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng của đơn vị đạt nhiều tiến triển tích cực khi số vụ vi phạm lâm luật giảm mạnh qua từng năm, song áp lực khai thác lén lút vẫn là thách thức thường trực. Các đề xuất về nâng cao năng lực thực thi pháp luật, giao khoán bảo vệ rừng và hỗ trợ sinh kế thay thế là những căn cứ khoa học và thực tiễn có ý nghĩa cho công tác quản lý rừng bền vững tại địa phương.