Đặt vấn đề Vườn quốc gia Tà Đùng được hình thành trên cơ sở chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng theo Quyết định số 185/QĐ-TTg ngày 08/02/2018 của Thủ Tướng Chính phủ. Có tổng diện tích tự nhiên là 21. Hiện nay VQG Tà Đùng đang chịu nhiều các tác động bất lợi từ các hoạt phát triển kinh tế của cộng đồng và địa phương như xâm lấn đất canh tác, khai thác thủy sản, săn bắt động vật, khai thác đá vôi…. Các hoạt động kinh tế và khai thác tài nguyên không có kiểm soát như trên đang gây ra các ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái rừng VQG Tà Đùng rất nhiều.
Các nguyên nhân dẫn đến việc mất rừng và suy thoái rừng đó là hệ thống pháp luật về bảo vệ phát triển rừng và bảo vệ môi trường, bảo tồn sinh thái còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, thiếu chế tài để xử lý thích đáng các trường hợp vi phạm. Bên cạnh đó là năng lực thực thi pháp luật của cán bộ công, viên chức còn nhiều hạn chế. Sự phối hợp giữa các cơ quan pháp luật còn thiếu chặt chẽ. Chính sách chuyển đổi rừng sang đất canh tác nông nghiệp còn nhiều khiếm khuyết dẫn đến mất rừng.
Ngoài ra, quá trình xây dựng hệ thống thủy điện, thủy lợi, giao thông, bố trí tái định cư, khai thác khoáng sản, xây dựng các khu công nghiệp. Còn thiếu quy hoạch tổng thể, phát triển theo phong trào dẫn đến việc mất rừng. Tiếp đến là chưa quản lý tốt việc du canh du cư và việc di dân nên dẫn đến việc phá rừng. Nhà nước chưa thật sự tạo được điều kiện tốt nhất để các cộng đồng miền núi có sinh kế ổn định, nên sự phụ thuộc vào rừng của cộng đồng và những mâu thuẫn trong việc sử dụng rừng ngày càng gia tăng.
Trong bối cảnh như vậy cần phải có một phương thức quản lý rừng thích hợp, làm sao vừa đáp ứng được lợi ích của người dân địa phương vừa bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng. VQG Tà Đùng thuộc địa bàn của xã Đắk Som, Đắk Glong, Đắk Nông. Không chỉ có tính đa dạng sinh học mà còn là rừng đặc dụng quan trọng. Tuy nhiên, những năm gần đây tài nguyên và diện tích rừng ở đây đang bị đe dọa, mà nguyên nhân chủ yếu là hoạt động của người dân vùng đệm (phá rừng làm nương rẫy, săn bắn, lấy gỗ…).
Với nhiều cảnh quan phong phú đa dạng được ví như là Vịnh Hạ Long của 1 Tây Nguyên nơi đây còn lưu giữ nhiều loài động thực vật quý hiếm rất có giá trị về nghiên cứu khoa học, đa dạng về các kiểu hệ sinh thái, thành phần loài, chứa đựng các loài động thực vật, đặc biệt là các loài bản địa, đặc hữu, những loài quý hiếm, nguy cấp có giá trị bảo tồn. Sự phong phú, đa dạng của nguồn tài nguyên sinh học ở rừng đã mang lại cho con người ở nơi đây những giá trị trực tiếp, gián tiếp; càng cho thấy rừng không những có ý nghĩa về mặt kinh tế, mà còn có ý nghĩa về sinh thái, môi trường. Thực trạng cho thấy đồng bào Châu Mạ sống dựa vào rừng và không thể thay thế được các loại tài nguyên rừng. Tuy nhiên trong suốt thời gian vừa qua tình trạng khai thác rừng trái phép diễn ra mạnh mẽ dẫn đến các loài bị suy giảm nghiêm trọng về số lượng lẫn chất lượng nhiều loài thực vật quý hiếm.
Với mục đích tìm ra các giải pháp bảo tồn và ngăn chặn, từ đó tôi tiến hành chọn đề tài: “Tác động của người dân vùng đệm đến hệ sinh thái rừng tại VQG Tà Đùng, tỉnh Đắk Nông”. Mục tiêu đề tài 2. Mục tiêu tổng quát Góp phần đánh giá ảnh hưởng các hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư đối với quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý rừng tại VQG Tà Đùng. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá công tác quản lý, bảo vệ rừng của VQG Tà Đùng - Phân tích những ảnh hưởng và tìm được nguyên nhân dẫn đến sự hình thành những hoạt động sinh kế đặc biệt những ảnh hưởng tiêu cực trong sinh kế của người dân vùng đệm đến hệ sinh thái rừng.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý bảo vệ rừng và góp phần phát triển Kinh tế - xã hội địa phương, giảm thiểu tác động bất lợi của cộng động dân cư vùng đệm đến hệ sinh thái rừng. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái niệm sinh kế Theo khái niệm của DFID đưa ra thì: “Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”.
Theo khái niệm nêu trên thì chúng ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ. Khái niệm vùng đệm Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ. Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; Dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng.
Hiện trạng tài nguyên rừng trên thế giới Rừng bao phủ 31,2% diện tích đất liền trên thế giới (khoảng 4. Trong đó rừng nhiệt đới chỉ phủ 6% giảm 9% so với năm 1950. Theo FAO thế giới mất khoảng 100 triệu ha rừng trong 20 năm qua. Nạn phá rừng đang càng gia tăng mạnh ở vùng châu Phi cận Sahara và Đông Nam Á.
Trong đó: Tại Đông Nam Á: tỉ lệ bao phủ rừng là 47,8% giảm 1,2% so với 2015 Tại châu Phi: tỉ lệ bao phủ rừng là 27,8% giảm 0,9% so với năm 2015 Tại Mĩ Latinh: rừng giảm từ 47.7% trong năm 2020 Trong khi đó nhờ chính sách phục hồi rừng và cho mở rộng tự nhiên, thì một số 3 nơi ở châu Á, châu Âu và Bắc Mĩ rừng bao phủ lại tăng hoặc giữ nguyên so với 6 năm trước. Còn tại khu vực Đông Nam Á nơi đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và đảm bảo cân bằng carbon trên toàn cầu nhưng hiện nay khu vực này lại là điểm nóng về phá rừng. Tỉ lệ mất rừng của toàn khu vực Đông Nam Á là khoảng 8 triệu hecta rừng hằng năm, trong đó 62% diện tích rừng bị mất đến từ Indonesia, theo sau là Malaysia với 16,6%, Myanmar 5,3% và Cambodia là 5%. 93% diện tích rừng hiện nay trên thế giới là rừng tự nhiên, bao gồm rừng nguyên sinh, nơi hầu như không có hoạt động của con người, và các khu rừng thứ sinh được tái sinh tự nhiên.
Ngành lâm nghiệp đóng góp khoảng 600 tỷ USD mỗi năm cho GDP toàn cầu và tạo việc làm cho hơn 50 triệu người. Hiện nay, diện tích rừng được bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 13% diện tích rừng thế giới, tương đương 524 triệu ha, với các khu vực lớn nhất được ghi nhận ở Brazil và Hoa Kỳ. Về thực vật và động vật: theo số liệu thống kê gần đây con người đã nhận biết và gọi tên được hơn 1.000 loài sinh vật trên thế giới. Nhưng trong những khu rừng nhiệt đới hay trong lòng đại dương bao la vẫn còn nhiều loài sinh vật mà con người chưa từng biết về chúng.
Theo ước tính của các nhà khoa học, trên trái đất có khoảng 10 triệu loài sinh vật. Cũng có con số thống kê lên đến 30. Từ đó có thể thấy rằng, hiểu biết của loài người chúng ta về thế giới sinh vật phong phú này còn rất khiêm tốn.000 loài sinh vật đã được con người nhận biết có khoảng hơn 300.000 loài thực vật, hơn 1.000 loài động vật. Trong đó thực vật có hoa khoảng hơn 200.000 loài, chiếm 2/3 số loài thực vật đã biết.
Trong động vật, côn trùng có khoảng 780.000 loài, chiếm 3/4 đến 4/5 số loài động vật đã biết. Đại đa số thực vật là thực vật hạt kín có khả năng nở hoa kết trái. Còn trong thế giới động vật, những loài côn trùng bé nhỏ lại chiếm ưu thế. Điều thú vị hơn nữa là trong lịch sử tiến hoá và phát triển của động vật và thực vật, thực vật nở hoa và côn 4 trùng lại có rất nhiều đặc điểm tiến hoá đồng thời với nhau, hỗ trợ phát triển lẫn nhau.
Từ đó khiến cho động vật và thực vật song song phát triển ngày càng phồn thịnh. Tuy nhiên hơn một nửa các loài thực vật và 1/3 các loài động vật phổ biến có thể gặp mối đe dọa nghiêm trọng vào thế kỷ này do biến đổi khí hậu, theo một nghiên cứu của trường Đại học vùng Đông Anglia (UEA) cho hay. Các thực vật, bò sát và đặc biệt là động vật lưỡng cư được dự đoán là có nguy cơ bị ảnh hưởng lớn nhất. Vùng phụ Sahara Châu Phi, vùng Trung Mỹ, Amazon và Australia là các khu vực sẽ mất gần hết các loài động thực vật.
Và một sự suy giảm lớn về số loài thực vật được dự báo cho các khu vực phía Bắc. Hiện trạng tài nguyên rừng ở Việt Nam Theo Điều 1 Quyết định 2860/QĐ-BNN-TCLN 2022, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2021 ở Việt Nam như sau: Diện tích đất có rừng bao gồm cả rừng trồng chưa khép tán: 14.201 ha, trong đó: Rừng tự nhiên: 10. Diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ toàn quốc là 13.108 ha, tỷ lệ che phủ là 42,02%. Trên thực tế, rừng vẫn bị xâm hại và chỉ còn khoảng ít % là rừng nguyên thủy, trong cả nước năm 2022 trung bình cả nước trồng được khoảng 230.000 ha rừng ( rừng sản xuất), tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc duy trì ổn định 42% nâng cao chất lượng rừng, nhưng diện tích rừng bị mất hằng năm cũng khá cao.