Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu tác động của môi trƣờng kinh doanh quốc tế đến hoạt động cung ứng dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đƣờng hàng không. Chương 2: Cơ sở lý luận chung của tác động của môi trƣờng kinh doanh quốc tế đến hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đƣờng hàng không Chương 3: Phân tích thực trạng của tác động của môi trƣờng kinh doanh quốc tế đến hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đƣờng hàng không của công ty TNHH MC Trans Global. Chương 4: Định hƣớng phát triển và đề xuất kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động cung ứng dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đƣờng hàng không của công ty TNHH MC Trans Global trong bối cảnh chịu nhiều ảnh hƣởng của môi trƣờng kinh doanh quốc tế. 8 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƢỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƢỜNG HÀNG KHÔNG 2.
Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về môi trƣờng kinh doanh quốc tế Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trên thế giới đang mở rộng hoạt động kinh doanh ra ngoài biên giới quốc gia, không chỉ dừng lại ở việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ trong nƣớc mà còn tích cực đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu của khách hàng tại thị trƣờng quốc tế. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn đầu tƣ vốn và công nghệ vào các thị trƣờng nƣớc ngoài, tìm kiếm cơ hội phát triển, nâng cao doanh thu và lợi nhuận. Khi phạm vi kinh doanh vƣợt qua ranh giới quốc gia, vƣơn tới tầm quốc tế, các doanh nghiệp đang chính thức tham gia vào hoạt động kinh doanh toàn cầu, mở ra nhiều triển vọng và thách thức trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa.
Thực tế có rất nhiều khái niệm về kinh doanh quốc tế, nhƣng tổng hợp lại theo PGS. Doãn Kế Bôn, TS. Lê Thị Việt Nga (2021) định nghĩa: “kinh doanh quốc tế được hiểu là việc các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động thương mại, đầu tư qua biên giới của quốc gia, mà thực chất đó là việc thực hiện các giao dịch qua biên giới nhằm mục đích sinh lợi, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của chính các doanh nghiệp”. Hay nói cách khác, kinh doanh quốc tế là những hoạt động đƣợc thực hiện bởi các chủ thể có trụ sở kinh doanh ở hai hay nhiều quốc gia khác nhau nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm những hoạt động nhƣ đầu tƣ, trao đổi thƣơng mại hàng hóa và dịch vụ.
Nhƣ vậy, theo Doãn Kế Bôn, TS. Lê Thị Việt Nga (2021) định nghĩa: “Môi trường kinh doanh quốc tế là tổng thể các yếu tố môi trường thành phần như môi trường pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa, tài chính. những yếu tố này tồn tại ở mỗi quốc gia trong nền kinh tế thế giới, chúng tác động và chi phối mạnh mẽ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh các mục đích, hình thức và chức năng hoạt động của mình cho thích ứng, nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh”. Môi trƣờng chính trị: 9 Hệ thống chính trị có thể là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các tổ chức nhƣ đảng chính trị, nhà nƣớc, các tổ chức chính trị-xã hội (hợp pháp); với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lƣợng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội.
(Theo giáo trình kinh doanh quốc tế - Trường Đại học thương mại - 2021) Môi trƣờng chính trị là cơ sở của môi trƣờng kinh doanh trong một quốc gia. Nếu các chính sách của chính phủ ổn định và tốt hơn thì doanh nghiệp sẽ đƣợc tác động theo hƣớng tích cực và ngƣợc lại. Những thay đổi trong chính phủ thƣờng dẫn đến những thay đổi trong chính sách. Đối với hoạt động kinh doanh quốc tế thì các công ty hoạt động trong lĩnh vực này cần quan tâm đến môi trƣờng chính trị quốc tế.
Chính trị quốc tế là sự giao thoa giữa môi trƣờng đa dạng của các quốc gia. Nó tạo ra sự đa dạng trong các mặt hàng và cũng chứa đựng những khó khăn phức tạp về môi trƣờng chính trị. Môi trƣờng pháp luật Hệ thống pháp lý của quốc gia là các nguyên tắc, các điều luật điều tiết hành vi và các quy trình giúp thi hành các điều luật qua đó xử lý các tranh chấp. Hệ thống luật pháp của một quốc gia là vô cùng quan trọng đối với thƣơng mại quốc tế.
Luật pháp quốc gia sẽ điều tiết hoạt động kinh doanh, thiết lập quyền lợi cũng nhƣ nghĩa vụ của các bên tham gia vào các thƣơng vụ. Môi trƣờng pháp lý của các quốc gia rất khác nhau và cũng do hệ thống chính trị chi phối. Môi trƣờng kinh tế Môi trƣờng kinh tế bao gồm một số yếu tố: bản chất và cơ cấu của nền kinh tế, mức thu nhập, tốc độ tăng trƣởng GDP, thuế giá trị gia tăng, tỷ lệ lạm phát, trình độ phát triển kinh tế, phân phối thu nhập, các yếu tố sản xuất, chính sách kinh tế, chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, tỷ lệ thất nghiệp,… Những yếu tố này đều có ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp hoặc cá nhân hiện đang tồn tại trong nền kinh tế đó. Môi trƣờng văn hóa: “Văn hóa là một tổng thể phức hợp về những giá trị vật chất và tinh thần do 10 con người kiến tạo nên và mang đặc thù riêng của mỗi một dân tộc”.- (Giáo trình kinh doanh quốc tế- Trường Đại học Thương mại) Nhƣ vậy, môi trƣờng văn hóa là tổng hòa các loại điều kiện văn hóa tinh thần tồn tại xung quanh con ngƣời và tác động tới hoạt động của con ngƣời.
Yếu tố chủ yếu tạo thành môi trƣờng văn hóa là giáo dục, khoa học, kinh tế, văn nghệ, đạo đức, tôn giáo, triết học, tâm lý dân tộc và tập tục truyền thống. Khái niệm về hoạt động cung ứng dịch vụ giao nhận vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đƣờng hàng không 2. Khái niệm về hoạt động giao nhận vận chuyển Theo một cách dễ hiếu nhất, giao nhận hàng hóa là quá trình nhận hàng hóa từ địa điểm của ngƣời cần giao hàng và giao đến địa điểm của ngƣời nhận hàng. Dịch vụ giao nhận có thể đƣợc hiểu là dịch vụ của một bên thứ ba cung cấp cho ngƣời có nhu cầu vận chuyển bằng cách cung ứng dịch vụ trực tiếp hoặc gián tiếp.
Theo quy tắc mẫu của FIATA, dịch vụ giao nhận (Freight Forwarding Service) là bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến vận chuyên, gom hàng, lƣu kho, xử lý hàng, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng nhƣ dịch vụ phụ trợ khác có liên quan đến các dịch vụ trên nhƣ tƣ vấn, thủ tục hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ có liên quan đến hàng hóa. Cũng theo FIATA, "giao nhận hàng hóa là tập hợp những nghiệp vụ thủ tục có liên quan đến quá trình vận chuyển hàng hóa nhằm mục đích di chuyển hàng hóa từ nơi gửi đến nơi nhận". Theo Điều 167, Luật Thƣơng mại 1997"Giao nhận hàng hóa là hành vi thƣơng mại, theo đó ngƣời làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ nguời gửi, tổ chức vận chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho ngƣời nhận theo sự uy thác của chủ hàng, của ngƣời vận tải hoặc của ngƣời giao nhận khác"' 2. Khái niệm hoạt động cung ứng dịch vụ giao nhận vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đƣờng hàng không Theo Khoản 9 Điều 3 Luật thƣơng mại 2005: "Cung ứng dịch vụ là hoạt động thƣơng mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận." 11 Vận chuyển hàng không là hình thức vận chuyển sử dụng máy bay chuyên dụng để vận chuyển hàng hóa (Cargo Aircraft hay Freighter) hoặc chở trong phần bụng máy bay dân dụng ((Passenger Aircraft).
Từ những khái niệm trên, ta có thể hiểu hoạt động cung ứng dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đƣờng hàng không là hoạt động cung cấp dịch vụ vận tải có liên quan đến việc sử dụng kết cấu hạ tầng và phƣơng tiện vận tải hàng không, đó là việc sử dụng những khu đất gắn liền với tuyến đƣờng hàng không nối liền các quốc gia, các vùng lãnh thổ hoặc các khu vực trong phạm vi một quốc gia và việc sử dụng máy bay, các thiết bị xếp dỡ để phục vụ việc dịch chuyển hàng hóa trên những tuyến đƣờng hàng không, đƣa hàng từ tay ngƣời dƣới đến tay ngƣời nhận. Cơ sở lý luận về hoạt động cung ứng dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đƣờng hàng không. Đặc điểm của phƣơng thức vận tải bằng đƣờng hàng không Vận chuyển hàng không là một mắt xích quan trọng trong quá trình tổ chức vận tải đa phƣơng thức quốc tế, và mạng lƣới hàng không bao phủ khắp địa cầu, hơn nữa, lƣợng hàng hóa vận chuyển bằng đƣờng hàng không chiếm gần 1/3 giá trị hàng hóa buôn bán trên thế giới. Có thể thấy đây là phƣơng thức vận tải có tốc độ vận chuyển nhanh chóng, phù hợp với các mặt hàng cần vận chuyển trong thời gian ngắn.
Đồng thời, phƣơng thức vận tải này có tính an toàn cao và hành trình đều đặn. Không giống nhƣ các phƣơng thức vận tải đƣờng bộ hay đƣờng thủy, vận tải hàng không không bị hạn chế bởi địa hình tự nhiên, mang lại tính linh hoạt cao. Hơn nữa, Phƣơng thức vận chuyển này tránh đƣợc nguy cơ va chạm và hƣ hỏng hàng hóa do không có sự va đập cơ học nhƣ trên các phƣơng tiện vận tải khác. Nói chung, vận chuyển hàng không giúp vận chuyển nhanh chóng các mặt hàng có giá trị cao hoặc những mặt hàng cần gấp mà các phƣơng tiện vận tải khác có thể không thực hiện đƣợc, Tuy nhiên điều này cũng đi kèm với khó khăn trong việc triển khai do chi phí và quy trình phức tạp.
Vận tải hàng không có chi phí cao hơn so với các phƣơng thức khác.