Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu tác động của môi trường kinh doanh đến hoạt động nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc của Công ty TNHH SOR Việt Nam Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của môi trường kinh doanh đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Chương 3: Phân tích thực trạng tác động của môi trường kinh doanh đến hoạt động nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc của Công ty TNHH SOR Việt Nam Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp tăng cường thích ứng với môi trường kinh doanh nhằm cải thiện hoạt động nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc của công ty TNHH SOR Việt Nam. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP. Một số khái niệm cơ bản 2.
Khái niệm và hình thức nhập khẩu hàng hóa ❖ Khái niệm nhập khẩu: Về mặt lý thuyết thì xuất nhập khẩu được hiểu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định. Nhập khẩu không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà nó là hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài Theo quy định tại Điều 28 Luật Thương mại 2005, nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật ❖ Các hình thức nhập khẩu: Theo giáo trình Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế - Đại học Thương mại có chia nhập khẩu thành các hình thức như sau: Nhập khẩu trực tiếp: Đối với hình thức này thì người mua và người bán hàng hóa trực tiếp giao dịch với nhau, quá trình mua và bán không hề ràng buộc lẫn nhau. Bên mua có thể mua mà không bán và ngược lại. Nhập khẩu ủy thác: Nhập khẩu ủy thác được hiểu là hoạt động dịch vụ thương mại theo đó chủ hàng thuê một đơn vị trung gian thay mặt và đứng tên nhập khẩu hàng hóa bằng hợp đồng ủy thác.
Nói một cách dễ hiểu hơn, các doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một loại hàng hóa nào đó, tuy nhiên lại không được phép nhập khẩu trực tiếp, hoặc gặp khó khăn trong quá trình kiếm, giao dịch với đối tác nước ngoài thì sẽ thuê những các doanh nghiệp có chức năng thương mại quốc tế tiến hành nhập khẩu cho mình 12 Buôn bán đối lưu: Buôn bán đối lưu có thể được coi là một phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế, được sử dụng chủ yếu trong các giao dịch mua bán với chính phủ những nước đang phát triển. Hàng hóa và dịch vụ được đổi lấy hàng hóa và dịch vụ khác có giá trị tương đương. Trong phương thức này, chỉ với 1 hợp đồng doanh nghiệp có thể tiến hành đồng thời cả hai hoạt động trọng điểm là xuất khẩu và nhập khẩu. Lượng hàng hóa giao đi và hàng nhận về có giá trị tương đương nhau.
Tạm nhập tái xuất: Tạm nhập tái xuất là hình thức mà thương nhân Việt Nam nhập khẩu tạm thời hàng hóa vào Việt Nam, nhưng sau đó lại xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam sang một nước khác. Hình thức này là tiến hành nhập khẩu hàng hóa nhưng không để tiêu thụ trong nước mà để xuất khẩu sang một nước thứ ba nhằm thu lợi nhuận. Giao dịch này bao gồm cả nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu lại lượng ngoại tệ lớn hơn số vốn ban đầu đã bỏ ra. Nhập khẩu gia công: Là hình thức mà bên nhận gia công của Việt Nam nhập khẩu nguyên vật liệu từ người thuê gia công ở nước ngoài, theo hợp đồng gia công đã ký kết.
Chẳng hạn như doanh nghiệp dệt may, giày da của Việt Nam nhập nguyên phụ liệu từ Đài Loan để sản xuất hàng gia công cho đối tác Đài Loan. Vai trò của nhập khẩu hàng hóa Nhập khẩu là một trong hai hoạt động cấu thành ngoại thương. Có thể hiểu đó là việc mua hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích thu lợi. Nhập khẩu thể hiện sự phụ thuộc gắn bó lẫn nhau giữa nền kinh tế của một quốc gia với nền kinh tế Thế giới.
Hiện nay khi các nước đều có xu hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại, nền kinh tế quốc gia đã hòa nhập với nền kinh tế Thế giới thì vai trò của nhập khẩu đã trở nên vô cùng quan trọng. Nhập khẩu tạo ra sự chuyển giao công nghệ, do đó tạo ra sự phát triển vượt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển trong xã hội. Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại, tạo ra động lực bắt buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên, tạo ra sự phát triển xã hội và sự thanh lọc các đơn vị sản xuất. 13 Nhập khẩu xóa bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tế đóng, chế độ tự cấp, tự túc.
Nhập khẩu giải quyết những nhu cầu đặc biệt (hàng hóa hiếm hoặc quá hiện đại mà trong nước không thể sản xuất được). Nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế, thị trường trong và ngoài nước khác nhau, tạo điều kiện phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy được lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hóa. Khái niệm môi trường kinh doanh và môi trường kinh doanh quốc tế ❖ Khái niệm môi trường kinh doanh: Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế quốc dân , môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố, các nhân tố (bên ngoài và bên trong) vận động tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. ❖ Khái niệm môi trường kinh doanh quốc tế Theo giáo trình Kinh doanh quốc tế - ĐHTM, môi trường kinh doanh quốc tế là sự tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc môi trường quốc gia với môi trường nước ngoài; và giữa các yếu tố môi trường nước ngoài của hai quốc gia khi một công ty tại quốc gia này hoạt động kinh doanh với khách hàng ở quốc gia khác.
Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh 2. Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Môi trường bên ngoài là các yếu tố khách quan nằm ngoài doanh nghiệp. Vì là những yếu tố khách quan nên doanh nghiệp không thể thay đổi môi trường bên ngoài mà chỉ có thể phản ứng lại với nó. Doanh nghiệp có thể thích nghi hoặc không thích nghi được với môi trường bên ngoài, điều này góp phần quyết định đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính trị Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, hệ thống chính trị là tổng thể những tổ chức thực hiện quyền lực chính trị được xã hội chính thức thừa nhận. Vì 14 vậy, hệ thống chính trị bao gồm các cơ quan luật pháp, các đảng phái chính trị, các nhóm vận động hành lang và các công đoàn. Trên thế giới, mỗi quốc gia lại chọn cho mình các tổ chức hệ thống chính trị riêng. Trong lịch sử gần đây, hệ thống chính trị trên thế giới được chia thành 3 loại chế độ chính trị, đó là chế độ chuyên chế, chế độ xã hội chủ nghĩa, và chế độ dân chủ.
Pháp luật Ở mỗi quốc gia, hệ thống pháp luật bao gồm những văn bản luật và những văn bản dưới luật, tạo nên một khung pháp lý cho phép hoặc hạn chế các mối quan hệ cụ thể giữa con người và các tổ chức, đưa ra các hình phạt cho những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật. Hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng của một chế độ chính trị và được hoàn thiện theo thời gian, phù hợp với sự thay đổi và phát triển về mặt xã hội, chính trị, kinh tế và công nghệ của mỗi quốc gia cũng như đề phù hợp với luật pháp quốc tế. Môi trường pháp luật của hoạt động kinh doanh quốc tế không chỉ là hệ thống luật pháp của một quốc gia mà còn là những quy định pháp lý của các tổ chức quốc tế như các Công ước, Hiệp ước hay các Hiệp định. Ngoài ra còn có những thỏa thuận song phương, đa phương giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc khu vực như thỏa thuận về thương mại, đầu tư hay thỏa thuận đối tác kinh tế,.
Kinh tế Môi trường kinh tế bao gồm rất nhiều yếu tố. Trước hết, nhà kinh doanh cần biết nền kinh tế của một quốc gia đang được vận hành theo cơ chế nào, kinh tế thị trường hay kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hay là nền kinh tế hỗn hợp. Bên cạnh đó, nhà kinh doanh quan tâm đến những yếu tố khác của môi trường kinh tế như tốc độ tăng trưởng theo thời gian, thu nhập bình quân đầu người, biến động của lãi suất, tỷ giá, cơ cấu kinh tế… Tùy thuộc nhà kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực gì, hình thức nào để quan tâm tới những chỉ tiêu cụ thể phù hợp với hình thức và mục đích kinh doanh của mình. Văn hóa Văn hóa bao gồm những yếu tố hữu hình và vô hình.
Các yếu tố hữu hình như đường xá, các công trình kiến trúc, hàng hóa tiêu dùng và các giá trị vật thể khác 15 còn các yếu tố vô hình bao gồm các quy tắc ứng xử, giá trị, ý tưởng, phong tục tập quán và các biểu tượng có nghĩa khác. Văn hóa phát triển trong lòng mỗi xã hội để tạo nên đặc thù riêng cho những người thuộc xã hội đó và để phân biệt họ với những người thuộc những xã hội khác. Đầu tiên, văn hóa định hình cách sống của các thành viên trong xã hội chẳng hạn như cách ăn mặc, ở. Thứ hai, văn hóa giải thích cách mà các thành viên cư xử với nhau và với các nhóm người khác.
Thứ ba, văn hỏa xác định hệ thống các niềm tin và các giá trị của các thành viên và và cách họ cảm nhận về ý nghĩa của cuộc sống Văn hóa được coi là thành phần quan trọng nhất trong nền văn minh của mỗi quốc gia vì nó thể hiện sự khác biệt giữa các xã hội thông qua ngôn ngữ, thói quen, tập quán.