Chương 1: Lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và môi trường đầu tư. Chương 2: Thực trạng môi trường đầu tư và tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 – 2010. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hải Dương.Duong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Duong Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀ MÔI TRƢỜNG ĐẦU TƢ 1.1 Lý luận về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài - hình thức đầu tư quốc tế * Vài nét về đầu tư nước ngoài (quốc tế) Đầu tư nước ngoài là một quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện các dự án đầu tư nhằm thu lợi nhuận và các lợi ích khác ở các nước nhận đầu tư. Đầu tư nước ngoài là tất yếu khách quan do có sự khác nhau về nhu cầu và khả năng tích lũy vốn của các quốc gia, do việc tìm địa điểm đầu tư có lợi cho các doanh nghiệp, do việc gặp gỡ lợi ích giữa bên đầu tư và nhận đầu tư… Đầu tư nước ngoài mang đặc điểm của đầu tư nói chung: tính sinh lời, tính rủi ro, chủ sở hữu đầu tư là người nước ngoài và các yêu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia.
Đầu tư nước ngoài có các hình thức chủ yếu: - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Invesment) - Đầu tư gián tiếp nước ngoài ( FPI - Foreign Portfolio Investment) – là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới, nó chỉ các hoạt động: viện trợ phát triển chính thức (ODA) - Mua cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác (gọi tắt là đầu tư gián tiếp – FII) thông qua thị trường chứng khoán và hình thức tín dụng quốc tế. Vốn đầu tư quốc tế như sơ đồ dưới đây (LUAN.Duong TIEU LUAN MOI download : 6skknchat@gmail.1 Các loại hình vốn đầu tƣ quốc tế Vốn đầu tư quốc tế Đầu tư của tư nhân Trợ giúp phát triển chính thức của CP và các tổ chức quốc tế Đầu tư Đầu tư Tín dụng Hỗ trợ Hỗ trợ Tín dụng trực tiếp gián tiếp thương dự án phi dự thương mại án mại * Đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của các cá nhân hoặc các công ty nước này vào nước khác bằng cách thức lập các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư mà các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý điều hành, tổ chức sản xuất để thu lại lợi ích và hoàn toàn chịu trách nhiệm về đồng vốn cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của mình. So với đầu tư gián tiếp, hình thức FDI tạo cho nước chủ nhà có nhiều khả năng tiếp thu được công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của chủ đầu tư nước ngoài.
Mặt khác, các chủ đầu tư nước ngoài (ở một mức độ nhất định) có thể tham gia điều hành quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho vốn đầu tư mà họ bỏ ra. Ngoài ra hình thức FDI còn tránh được nguy cơ trục lợi về chính trị, bị trói buộc vào vòng ảnh hưởng của các nước cho vay khi huy động vốn bằng hình thức tiếp nhận đầu tư gián tiếp. Tuy nhiên, FDI sẽ không mang lại hiệu quả cao nếu nước chủ nhà không có một quy hoạch đầu tư cụ thể khiến đầu tư tràn 7 (LUAN.Duong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Duong lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt và “vô tình” trở thành “bãi thải” công nghệ lạc hậu, độc hại do các nước đầu tư chuyển sang. Chính vì những ưu và nhược điểm đã phân tích trên đây mà đa số các nước đang phát triển coi FDI là “chìa khoá” để mở cánh cửa phát triển kinh tế.
Đặc biệt trong giai đoạn đầu khi các hình thức hút vốn đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán chưa ra đời thì FDI càng có ý nghĩa quan trọng * Các hình thức FDI Hiện nay ở Việt Nam có các hình thức FDI chủ yếu sau: 1. Doanh nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài: doanh nghiệp này do chủ đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại nước sở tại, có quyền điều hành toàn bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật nước sở tại. Xí nghiệp/công ty liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Tại Việt Nam theo quy định của pháp luật đối với những cơ sở kinh tế quan trọng do Chính phủ quyết định, doanh nghiệp Việt Nam trên cơ sở thoả thuận với chủ doanh nghiệp nước ngoài để chuyển thành doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập do chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp Việt Nam (với mức vốn tối thiểu là 30% vốn) trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỉ lệ đóng góp của mỗi bên vào vốn pháp định. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT. Nhà đầu tư được ký kết hợp đồng BCC để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác.
Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng. Hợp đồng BCC trong lĩnh vực tìm 8 (LUAN.Duong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Duong kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác dưới hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quy định. Đầu tư phát triển kinh doanh.
Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức sau đây: Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh; Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường. Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.2 Đặc điểm và vai trò của FDI 1.1 Đặc điểm của FDI - Thứ nhất, các chủ đầu tư phải đóng góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định theo quy định của luật đầu tư của từng quốc gia.
Ví dụ, Điều 16 Luật đầu tư Việt Nam 2005 quy định: Vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp. Trong trường hợp đặc biệt, tỷ lệ này có thể thấp hơn 30%, nhưng phải được cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài chấp thuận. - Thứ hai, chủ đầu tư có quyền trực tiếp tham gia quá trình kinh doanh của xí nghiệp; quyền này phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư đó.Duong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Duong Ví dụ: nếu chủ đầu tư nước ngoài đóng góp 100% vốn thì họ có toàn quyền quản lý, kinh doanh. - Thứ ba, lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc kết quả hoạt động sản xuất kinh doành và tỉ lệ góp vốn.
So với các hình thức đầu tư khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những thế mạnh và đặc trưng riêng có: - Đầu tư trực tiếp nước ngoài tuy vẫn chịu sự chi phối của chính phủ của nước nhận đầu tư nhưng lệ thuộc ít hơn vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên hơn so với hình thức tín dụng quốc tế. - Bên nước ngoài trực tiếp tham gia quá trình kinh doanh của xí nghiệp nên họ trực tiếp kiểm soát sự hoạt động và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho việc đầu tư. - Do quyền lợi của nhà đầu tư gắn chặt với dự án cho nên họ có thể lựa chọn kỹ thuật công nghệ thích hợp, luôn tích cực nâng cao trình độ quản lý, tay nghề công nhân ở nước tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế trên đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có những hạn chế nhất định.
Trước hết, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn luôn muốn giành được lợi nhuận cao nhất, họ sành sỏi trong kinh doanh nên nếu luật ở nước nhận đầu tư chưa chặt chẽ thì có thể gây ra một số tác động tiêu cực về môi trường, kinh tế - xã hội. Bài học nhãn tiền ở Việt Nam là trường hợp Vedan đã xả thải trái phép gây ô nhiễm môi trường sông Thị Vải – Đồng Nai và toàn hệ thống sông Đồng Nai nói chung, gây ra hậu quả nặng nề đối với môi trường và cộng đồng dân cư. Đồng thời, do không thể chủ động trong việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành, theo lãnh thổ nên các nước nhận đầu tư khó có thể chủ động trong việc này. Đây là một nguyên nhân dẫn đến việc phát triển không cân đối giữa các ngành, nghề, các khu vực và địa phương – là mầm mống cho những bất ổn về kinh tế, chính trị.Duong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội (1) - Là động lực tăng trưởng kinh tế: Mục tiêu cơ bản trong thu hút FDI của một quốc gia hay một địa phương là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Mục tiêu này được thực hiện thông qua tác động tích cực của FDI đến các yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng: bổ sung nguồn vốn trong nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và phát triển khả năng công nghệ nội địa; phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm; thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới; tạo liên kết giữa các ngành công nghiệp.