CHƯƠNG 1 CÁC LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế 1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế (economic growth) Simon Kuznet (1966) định nghĩa “tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người hoặc theo từng công nhân”. Định nghĩa này tương tự như định nghĩa do Douglass C.North và Robert Paul Thomas (1973) đưa ra: “tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số” [19].
Trong khi đó, Hendrik Van den Berg cho rằng “tăng trưởng kinh tế là tăng phúc lợi của con người” [9]. Các nhà kinh tế học sử dụng hai chỉ tiêu là tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người để đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, vùng hay lãnh thổ. Theo quan điểm của tác giả, tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người. Vì thế, tốc độ tăng trưởng kinh tế được đo bằng tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người hàng năm.
Các nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Các nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong các lý thuyết tăng trưởng có những nét khác nhau. Dựa vào hàm sản xuất Y = F(K, L), lý thuyết tăng trưởng cổ điển cho rằng nguồn tăng trưởng bao gồm vốn (K) và lao động (L). Vì thế, chuyên môn hoá và cải tiến kỹ thuật sẽ giúp nâng cao hiệu quả vốn và lao động. Ngoài ra, theo lý thuyết tăng trưởng cổ điển (trước 1950), ngoại thương và thị trường cũng góp phần cải thiện hiệu quả của vốn và lao động.
Trong khi đó, lý thuyết tăng trưởng tuyến tính (1950 – 1960) nhấn mạnh vai trò của tiết kiệm, vốn và năng suất vốn đối với tăng trưởng kinh tế. Về phần mình, lý thuyết tăng trưởng mới (1980 – 11 1990s) tập trung vào vai trò của tri thức, vốn nhân lực, nghiên cứu và phát triển (R&D), lợi suất tăng lên theo quy mô và ngoại thương trong tiến trình tăng trưởng [9]. Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhiều nhân tố, song các nhân tố cơ bản là: Thứ nhất, nguồn nhân lực. Nhiều nhà kinh tế cho rằng nguồn nhân lực hay vốn con người là yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng kinh tế.
Hầu hết tất cả các yếu tố khác của sản xuất như vốn, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì rất khó có thể làm điều tương tự. Một nước có thể mua những thiết bị thông tin viễn thông, máy tính, máy phát điện hiện đại nhất. Thế nhưng, những hàng hóa vật chất có vai trò vốn này chỉ có thể phát huy tối đa hiệu quả bởi những người công nhân có sức khoẻ, được đào tạo, có kỹ năng và kỷ luật lao động tốt. Có thể nói: “nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực”, là “tài nguyên của mọi tài nguyên”.
Vì vậy, con người có sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu của Romer, 1986; Mankiw 1992; Lucas, 1993; Young, 1995; và Barro, 1998 đã chứng minh vai trò to lớn của nhân tố nguồn nhân lực này [54], [44], [42], [66] và [29]. Thứ hai, vốn đầu tư (bao gồm đầu tư tư nhân, đầu tư chính phủ và đầu tư nước ngoài). Theo các nhà kinh tế, vốn đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng của quá trình sản xuất.
Tùy theo mức độ vốn đầu tư mà người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp. Thế nhưng, một quốc gia muốn tích lũy vốn trong tương lai cần có sự hy sinh tiêu dùng cá nhân trong hiện tại. Những nước tăng trưởng nhanh có xu hướng đầu tư mạnh vào sản xuất những hàng hóa mang tính chất là nguồn vốn mới. Những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh thường dành 10% đến 20 % thu nhập cho việc tạo ra vốn.
Tuy nhiên, vốn đầu tư của toàn xã hội không chỉ là máy móc, thiết bị dùng cho sản xuất, mà còn bao gồm cả lượng vốn đầu tư để phát 12 triển lợi ích chung của toàn xã hội. Đó là lượng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia, mà phần lớn là do chính phủ đầu tư. Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng không kém (sẽ được xem xét trong các phần sau). Các nhà kinh tế học đã chỉ ra mối liên hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư.
Cụ thể, Harod Domar đã nêu công thức tính hiệu suất sử dụng vốn sản phẩm gia tăng viết tắt là ICOR (Incremental Capital Output Ratio). Đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng của GDP. Những nền kinh tế thành công thường khởi đầu quá trình phát triển kinh tế với các chỉ số ICOR thấp, thường không quá 3%, có nghĩa là phải tăng đầu tư 3% để tăng 1% GDP. Một nền kinh tế tăng trưởng cao không chỉ dừng lại ở việc tăng khối lượng vốn đầu tư, mà còn phải đặc biệt chú ý đến hiệu quả sử dụng vốn, quản lý vốn chặt chẽ, đầu tư vốn hợp lý vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.
Vai trò vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế đã được nghiên cứu bởi các nhà kinh tế như Solow, 1956; Mankiw, Romer, và Weil, 1992 [57], [43]. Thứ ba, tiến bộ công nghệ. Lịch sử phát triển đã chứng minh tăng trưởng kinh tế rõ ràng không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và vốn. Ngược lại, đây là quá trình sáng chế và thay đổi công nghệ sản xuất không ngừng.
Tiến bộ công nghệ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng vì nó góp phần làm: i) tăng năng suất lao động; ii) tăng năng suất vốn; iii) tiết kiệm lao động, vốn trên sản phẩm nên cùng lượng chi phí nhưng sản phẩm tạo ra nhiều hơn; iv) mở ra các ngành nghề và sản phẩm mới… Các nhà kinh tế tân cổ điển mà đại diện là Solow (1991) cho rằng: do sản phẩm biên của các yếu tố sản xuất sụt giảm cho nên tăng trưởng bền vững chỉ có thể thực hiện được thông qua việc thay đổi công nghệ; bởi vì việc áp dụng công nghệ mới hiện đại làm giảm chi phí thực tế [58]. Trong nghiên cứu thực tiễn của mình, Nafziger (1990) đã đi đến kết luận rằng tích lũy vốn và tiến bộ công nghệ là những nhân tố chính giải thích cho sự tăng trưởng kinh tế phi thường của các nước Tây Âu và Nhật Bản trong 125-150 năm trở lại đây [47]. Những phát minh đã làm năng suất tăng mạnh là động cơ hơi nước, máy phát điện, động cơ đốt trong,… Ngày nay, 13 công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất.
Thứ tư, xuất khẩu. Tác động của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế được thuật ngữ kinh tế gọi là “export-led growth”, nghĩa là tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu. Xuất khẩu có thể có tác động đến tăng trưởng kinh tế một cách trực tiếp vì nó là một thành phần của tổng sản phẩm hay một cách gián tiếp thông qua ảnh hưởng của nó đến các nhân tố của tăng trưởng. Theo Ngân hàng Thế giới (1993), xuất khẩu có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng qua nhiều cách.
Cụ thể là: i) Xuất khẩu làm tăng nhu cầu trong nền kinh tế và do vậy mở rộng thị trường cho sản xuất nội địa. ii) Việc hướng về xuất khẩu và cởi mở thương mại cải thiện quá trình tái phân bổ nguồn lực, làm tăng năng lực sử dụng nguồn lực và cạnh tranh của quốc gia. iii) Xuất khẩu làm tăng đầu tư trong nước cũng như thu hút đầu tư nước ngoài. iv) Xuất khẩu giúp giảm bớt ràng buộc về cán cân thương mại.
v) Xuất khẩu thúc đẩy thay đổi công nghệ và cải thiện nguồn vốn nhân lực, qua đó làm tăng năng suất [18], [64]. Nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu và chứng minh tác động tích cực của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế là Moschos, 1989; Ram, 1987; Tyler, 1981 [46], [52] và [59]. Như vậy, tác giả sẽ chọn các nhân tố tác động đến tăng trưởng GDP của Việt Nam trong mô hình phân tích định lượng trong chương 3 là: 1) Vốn đầu tư, bao gồm: - Đầu tư khu vực nhà nước: bao gồm vốn ngân sách và vốn doanh nghiệp nhà nước. - Đầu tư nội địa khu vực ngoài nhà nước: bao gồm vốn kinh tế tập thể, tư nhân và cá thể.
- Đầu tư khu vực có vốn FDI. 2) Chuyển giao công nghệ: biến đại diện cho nhân tố này sẽ được tính bằng tỷ trọng nhập khẩu máy móc thiết bị/ GDP. 3) Nguồn nhân lực: Đây là nhân tố phản ánh trình độ của lực lượng lao động, được hình thành từ nhiều kênh khác nhau nhưng chủ yếu vẫn qua 14 kênh giáo dục. Vì thế, tác giả sẽ chọn số sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng/ 1000 dân đang làm việc trong nền kinh tế làm biến đại diện cho nhân tố này.
4) Xuất khẩu: nhân tố này sẽ được đại diện bằng biến tỷ trọng xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ/ GDP. Lý thuyết đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) Cho đến nay, đã có nhiều cách hiểu khác nhau về FDI. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (Direct Investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (Direct Investment Enterprise) trong một quốc gia khác.
Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phần mới được công nhận là FDI [2]. Theo Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD), FDI bao gồm các hoạt động kinh tế của các cá nhân, kể cả việc cho vay dài hạn hoặc sử dụng nguồn lợi nhuận tại nước sở tại nhằm mục đích tạo dựng quan hệ kinh tế lâu dài và mang lại khả năng gây ảnh hưởng thực sự về quản lý [51].