Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu. Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc luận văn. Chương 2 Cơ sở lý thuyết. Trình bày các khái niệm về doanh nghiệp, lý thuyết đầu tư, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, khung phân tích đề xuất.
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu. Trình bày phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích số liệu. Chương 4 Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước tỉnh Kiên Giang. Trình bày thống kê mô tả về đặc điểm của các doanh nghiệp và doanh nghiệp ngoài nhà nước, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Chương 5 Kết luận và kiến nghị chính sách. Chương này tổng hợp lại kết quả chính của luận văn và các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy đầu tư của các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới. LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP: 2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN: Trong nghiên cứu này sử dụng khái niệm theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Doanh nghiệp ngoài nhà nước là các doanh nghiệp vốn trong nước mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tư nhân một người hoặc một nhóm người hoặc có sở hữu Nhà nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống. Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước gồm: Hợp tác xã, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, Công ty cổ phần và Công ty cổ phần có vốn nhà nước từ 50% trở xuống. Đầu tư của doanh nghiệp: Đầu tư là phần tài sản được tích lũy nhằm để gia tăng năng lực sản xuất tương lai của doanh nghiệp. Tài sản ở đây có thể do doanh nghiệp tự sản xuất hay là huy động từ bên ngoài.
Vốn có thể là tiền, tài sản, sức lao động, trí tuệ. Quá trình từ tích lũy vốn đến đầu tư được thể hiện qua ba khâu: Tiết kiệm, huy động tiết kiệm vào hệ thống tài chính, và cuối cùng là đầu tư. Sachs - Larrain (1993) định nghĩa tổng quát về đầu tư: "Đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế". Sản lượng ở đây bao gồm phần sản lượng được sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài - theo luồng sản phẩm; đối với loại sản phẩm hữu hình như nhà cửa, công trình XDCB, máy móc thiết bị.hay các sản phẩm vô hình như bằng phát minh sáng chế, phí chuyển nhượng tài sản.
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Như vậy mục tiêu của mọi hoạt động đầu tư là đạt được kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư (nguồn lực phải hy sinh ở đây có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ). 6 Tùy theo nhu cầu quản lý và phân tích mà mỗi người quan tâm đến nội dung của vốn đầu tư theo các góc độ khác nhau. Trong nghiên cứu này, vốn đầu tư được hiểu là nguồn lực tích lũy của xã hội, cơ sở sản xuất kinh doanh, tiết kiệm của dân, huy động từ nước ngoài được biểu hiện dưới các dạng tiền tệ hoặc hàng hóa hữu hình, hàng hóa vô hình và hàng hóa đặc biệt khác.
LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ 2. Lý thuyết đầu tư của Irving Fisher: Lý thuyết về vốn và đầu tư của Irving Fisher đã được giới thiệu qua các tác phẩm Nature of Capital and Income (1906), Rate of Interest (1907) và được trình bày rất chi tiết trong Theory of Interest (1930). Lý thuyết của Fisher giả định tất cả các vốn đầu tư là vốn lưu động, có nghĩa là tất cả các nguồn vốn được sử dụng cho quá trình sản xuất, trong thực tế tất cả vốn là đầu tư. Hàm sản lượng đầu tư của Fisher được xác định như sau: Y=f(L,I) với Y là sản lượng, L là lao động và I là đầu tư.
Fisher quy định điều kiện thời gian cho đầu tư và sản lượng (do có độ trễ nên thời gian cho sản lượng là giai đoạn tiếp theo sau đầu tư). Để đơn giản, chúng ta hãy giả định là chỉ có hai khoảng thời gian t=1,2. Trong trường hợp này, đầu tư trong giai đoạn 1 (I1) thì sản lượng đầu ra là trong gia đoạn 2 với Y2 = f(L, I1). Từ đây có thể suy ra hàm lợi nhuận đầu tư như sau: Yt 1 (1 r ) I1 với là lợi nhuận đầu tư và r là lãi suất.
Công thức tối đa hóa lợi nhuận của công ty có thể viết lại như sau: max f ( I1 ) (1 r ) I1 Và quyết định đầu tư tối ưu khi f ' 1 r. Fisher gọi f '1 r là tỷ suất sinh lời sau chi phí (the rate of return over cost) còn trong thuyết của Keynes f '1 MEI , chính là hiệu quả đầu tư. Như vậy, điều kiện tối ưu cho quyết định đầu tư của công ty là MEI=r, tức là hiệu quả biên của đầu tư tương đương với lãi suất. Rõ ràng f ( I1 ) là một hàm lõm do đó khi I1 tăng lên thì f’ giảm.
Như vậy khi lãi suất tăng thì theo hàm MEI đầu tư sẽ sụt giảm, do đó mối quan hệ nghịch biến giữa đầu tư và lãi suất được biểu diễn ngắn gọn là I=I(r) với Ir =dI/dr (<0). Mặt dù lý thuyết của Fisher cho thấy rằng đầu tư có mối liên hệ với lãi suất nhưng lý thuyết của Ông vẫn bị vướng phải vấn đề về cấu trúc sở hữu và quyết định tài chinh. Có hai câu hỏi chính phát sinh ở đây đó là: 7 (1) Nếu các doanh nghiệp thuộc sở hữu của những người sáng lập thì có thể là quyết định đầu tư của công ty sẽ không bị ảnh hưởng bởi quyết định tiết kiệm tiêu dùng của chủ sở hữu? (2) Mối quan hệ chính xác giữa quyết định đầu tư của công ty, quyết định tài chính và rộng hơn là thị trường tài chính là gì? Theo như nghiên cứu của Jack Hirshleifer (1958, 1970) thì chúng ta có thể trả lời những câu hỏi này bằng cách thực hiện lại đầy đủ thuyết đầu tư của Fisher theo “hai giai đoạn” cho quá trình dự thảo ngân sách. Hai kết quả chính của quá trình dự thảo ngân sách 2 bước đã được biết đến là lý thuyết về sự phân tích “Separation Theorem”, Hirshleifer đã lưu ý 2 điểm quan trọng như sau: (1) Quyết định đầu tư của công ty hoàn toàn độc lập với sở thích của các chủ sở hữu đối với việc đầu tư.
(2) Quyết định đầu tư của công ty là hoàn toàn độc lập với quyết định tài chính. Lý thuyết này phát biểu rằng, dưới giả định thị trường tiền tệ hoàn hảo, việc đánh giá một quyết định đầu tư có thể được phân tách khỏi những mối quan tâm về phương thức tài trợ cho khoản đầu tư đó. Một thị trường tiền tệ hoàn hảo sẽ cho phép dòng tiền tự do lưu chuyển qua thời gian, bằng cách vay mượn một khoản tiền tại mức lãi suất thị trường. Nếu thị trường hoàn hảo đó tồn tại, tất cả các lãi suất cho vay này sẽ bằng mức lãi suất thị trường.
Một hệ quả rút ra từ lý thuyết này đó là trong thị trường tiền tệ hoàn hảo, với giả định không có rủi ro, giá trị hiện tại của một khoản tiền đầu tư khi chiết khấu mức lãi suất thị trường sẽ bằng mức thay đổi trong lượng tiền mặt mà người ra quyết định đầu tư nhận được tại thời điểm cơ hội đầu tư được xác định. Ngoài ra, trong nghiên cưu của Keynes (1936) cũng đã phê bình về thuật ngữ “lãi suất” trong quyết định đầu tư của Fisher. Keynes cho rằng Fisher đã dùng thuật ngữ tỷ suất sinh lợi sau chi phí (rate of return over cost) với cùng ý nghĩa và mục đích với thuật ngữ “lợi nhuận biên của vốn – MEI” của ông Keynes. Do đó, quyết định đầu tư tối ưu của doanh nghiệp là được thực hiện khi MEI bằng với lãi suất.
Tuy nhiên, nhìn chung thì lý thuyết đầu tiên về đầu tư được biết đến là lý thuyết của Irving Fisher năm 1930. Ông kết luận rằng đầu tư và lãi suất có mối tương quan 8 nghịch với nhau. Nhưng Keynes lại tranh luận về nguồn gốc và bản chất của lãi suất trong thuyết của Fisher và tìm ra một thuyết đầu tư khác (Keynes, 1936). Lý thuyết hiệu quả biên của đầu tư theo J.Keynes: Trong tác phẩm lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ của J.
Keynes (1936) đã đề cao vai trò của đầu tư trong thuyết về sản lượng và lao động. Quan điểm của ông khác với quan điểm truyền thống ở hai điểm đó là (1) tầm quan trọng của đầu tư không chỉ là kết quả do những ảnh hưởng dài hạn của nó lên tăng trưởng vốn cổ phần mà còn là động lực của tổng cầu và những biến động trong ngắn hạn của hoạt động kinh tế. (2) Keynes đã bác bỏ những cơ sở vi mô cua việc đầu tư được đưa ra dựa trên các điều kiện riêng của hiệu quả vốn như các yếu tố về tài chính, tiền tệ, yếu tố bất định như là những yếu tố cơ bản quyết định việc đầu tư. Lý thuyết này đã trở thành nguồn cung dồi dào các cơ sở lý thuyết cũng như bằng chứng thực nghiệm và góp phần ủng hộ cho các nghiên cứu về những ảnh hưởng của yếu tố tài chính lên đầu tư thông qua những hệ số tác động có ý nghĩa như tính thanh khoản và lợi nhuận trong một loạt các hàm thực nghiệm về đầu tư của doanh nghiệp.
Trong lý thuyết chung Keynes cũng đã đề cấp đến mối quan hệ giữa quyết đinh đầu tư và lãi suất của một hàm đầu tư là I I 0 I (r ). Keynes gia định rằng công ty đang có một loạt các dự án đầu tư và việc lựa chọn sẽ phụ thuộc vào tỷ suất sinh lời nội bộ IRR. Doanh nghiệp cần phải chọn một trong các dự án này để thực hiện là đâu là tiêu chí giúp họ ra quyết định?