đặt vấn đề cùng nghiên cứu, trình bày mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. Ngoài ra, chương còn thể hiện đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Chương này trình bày một cách tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Ngoài ra, chương hai còn tập trung đến các lý thuyết nền tảng, tìm hiểu về định nghĩa của bốn yếu tố: lãnh đạo trao quyền, chia sẻ tri thức, khả năng tiếp thu và kết quả làm việc nhóm; và bài nghiên cứu có liên quan đến chủ đề cũng được đề cập và làm cơ sở để hình thành mô hình nghiên cứu.
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Chương này được chia làm hai phần: ● Phần 1: mô tả và trình bày sơ lược về quy trình thu thập dữ liệu cho đến khi ra được kết quả. 6 ● Phần 2: mô tả chi tiết về từng bước nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu chính thức. Phần này trình bày thang đo cho từng yếu tố và các tiêu chuẩn cho từng thang đo để làm cơ sở cho những phân tích và kết quả có được trong chương 3. Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: Trình bày trong chương này nhằm trình bày các phân tích, kiểm định thang đo và các kết quả nghiên cứu được.
Chương 5 - Kết luận và hàm ý quản trị: Các kết quả nghiên cứu được nêu lên để thảo luận và đưa ra các ý nghĩa. Ngoài ra chương này cũng đề cập đến những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày những nội dung cơ bản về các khái niệm trong nghiên cứu, lý thuyết lãnh đạo quan hệ (RLT) và một số nghiên cứu trước đây liên quan đến mối quan hệ của các khái niệm làm nền tảng cho nghiên cứu này. Bao gồm khái niệm lãnh đạo trao quyền, chia sẻ tri thức, năng lực tiếp thu, kết quả làm việc nhóm và mối quan hệ giữa các khái niệm.
Từ đó, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình. Các khái niệm trong nghiên cứu 2. Lãnh đạo trao quyền Để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng và đối phó với sự thay đổi liên tục của môi trường bên ngoài, khái niệm trao quyền cho nhân viên đã nhận được sự chú ý đáng kể trong nghiên cứu và thực hành tổ chức qua các nghiên cứu của Chen và cộng sự (2011); Lorinkova và cộng sự (2013); Martin và cộng sự (2013); Maynard và cộng sự (2012); Seibert và cộng sự (2011); Spreitzer (1995); Srivastava và cộng sự (2006). Bên cạnh việc hoàn thành tốt vai trò chính thức của mình, nhân viên còn phải tham gia vào các hành vi thích ứng, chủ động với cấp trên và ngoài nhóm làm việc theo nghiên cứu của Griffin và cộng sự (2007); Martin và cộng sự (2013).
Do đó, khái niệm trao quyền đã trở nên quan trọng trong nghiên cứu tổ chức. Lãnh đạo trao quyền được định nghĩa là sự khuyến khích của nhà lãnh đạo đối với nhân viên để bắt đầu nhiệm vụ, đặt mục tiêu, học hỏi điều mới, đảm nhận trách nhiệm và phối hợp và hợp tác với nhau theo Pearce và Sims (2002); Sims và cộng sự (2009). Do đó, thay vì chỉ đạo và kiểm soát các thành viên trong nhóm, một trưởng nhóm trao quyền chuyển giao quyền lực, trách nhiệm và lãnh đạo cho nhóm, theo Manz và Sims (1987); và Stewart (2006), bằng cách trao quyền cho nhóm và các thành viên trong nhóm tự định hướng và lãnh đạo bản thân với nhau mà không cần giám sát trực tiếp theo Srivastava và cộng sự (2006). Theo Ahearne và cộng sự (2005); Kirkman và Rosen (1999); Leach và cộng sự (2003), trao quyền bao gồm bốn hành vi của lãnh đạo: làm nổi bật tầm quan trọng 8 của công việc của nhân viên, cho phép nhân viên tham gia vào việc ra quyết định, nhấn mạnh thế mạnh của nhân viên và loại bỏ các ràng buộc quan liêu.
Đổi lại, nhân viên cảm thấy được trao quyền về mặt tâm lý nếu họ nhận thức được ý nghĩa, năng lực, quyền tự chủ và tác động trong công việc của họ theo các nghiên cứu của Conger và Kanungo (1988); Kirkman và Rosen (1999); Spreitzer (1995). Qua các khái niệm của những nghiên cứu về lãnh đạo trao quyền, trong đề tài này, sẽ được định nghĩa theo nghiên cứu của Jungwoo Lee và cộng sự (2013). Theo đó, có thể hiểu rằng các nhà lãnh đạo trao quyền chia sẻ quyền lực với cấp dưới và khiến cấp dưới của họ tham gia vào việc đưa ra quyết định, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào khả năng thực hiện công việc của nhân viên. Chia sẻ tri thức Theo định nghĩa của Van den Hooff và De Ridder (2004) trong nghiên cứu của mình, chia sẻ tri thức là quá trình mà các cá nhân trao đổi lẫn nhau tri thức của họ và cùng nhau tạo ra kiến thức mới.
Từ đó, các thành viên sẽ có thêm thông tin để thực hiện nhiệm vụ (Mesmer-Magnus và De Church, 2009). Bên cạnh đó, theo Weggeman (2000), chia sẻ tri thức gồm nguồn tri thức và người nhận tri thức trong các quá trình chia sẻ tri thức, và theo Oldenkamp (2001) đã nhận định rằng chia sẻ tri thức bao gồm cả người mang tri thức và người yêu cầu tri thức. Trong đó, tri thức thức chỉ tăng lên khi chia sẻ cùng nhau, từ đó giúp người nhận tri thức gia tăng việc tích lũy kiến thức (Elizabeth A. Như vậy, tri thức được xem là một khái niệm đa chiều (Nonaka, 1994); tri thức làm tăng thêm sự phong phú, đa dạng cho nguồn thông tin, dữ liệu (Davenport và Prusak, 1998).
Ngoài ra, trong nghiên cứu nghiên cứu của Van den Hooff và De Ridder (2004), hành vi chia sẻ tri thức được chia thành hai nhóm như sau: đóng góp kiến thức, truyền đạt vốn tri thức cá nhân của một người cho người khác; và thu thập kiến thức, tham khảo ý kiến của người khác để họ chia sẻ vốn tri thức của họ. Do đó, hành vi chia sẻ tri thức là một 9 thành phần quan trọng của một cộng đồng, nhóm và việc chia sẻ các tri thức chung giữa các thành viên giúp mỗi thành viên đều nhận thấy lợi ích của việc chia sẻ tri thức với nhau. Từ đó hình thành nên niềm tin, sự tương hỗ và cộng tác với nhau. Có thể thấy có nhiều nghiên cứu đề cập đến khái niệm chia sẻ tri thức, nhưng trong đề tài này nhóm tác giả lựa chọn khái niệm của Jungwoo Lee và cộng sự (2013).
Trong đó, chia sẻ tri thức được định nghĩa là quá trình các thành viên trong nhóm cùng nhau chia sẻ những ý tưởng, thông tin, từ đó đưa ra đề xuất liên quan đến mục tiêu chung. Năng lực tiếp thu Trong nghiên cứu của Cohen và Levinthal (1990), năng lực tiếp thu chính là khả năng đánh giá, đồng hóa và áp dụng kiến thức mới để cải thiện việc học tập của tổ chức. Khái niệm về năng lực tiếp thu đề cập đến khả năng của người tiếp nhận trong việc đồng hóa giá trị và sử dụng kiến thức được chuyển giao. Theo nghiên cứu của Jungwoo Lee và cộng sự (2013) năng lực tiếp thu là sự tiếp thu hay đồng hoá các thông tin mới, khả năng khai thác thông tin, nhận biết, tiếp thu, tích hợp cũng như áp dụng kiến thức.
Bên cạnh đó, năng lực tiếp thu còn được định nghĩa như là biến đa hướng được đo lường bởi hai yếu tố là khả năng thành viên và động lực của các thành viên. Trong đó, khả năng tiếp thu đề cập đến các kỹ năng cần thiết để tiếp thu với các nền tri thức mới (Mowery và Oxley, 1995) và khả năng tiếp có xu hướng phát triển và tích lũy dựa trên kiến thức hiện có (Szulanski, 1996). Theo Zahra và George (2002), khả năng tiếp thu được chia thành hai loại là khả năng tiếp thụ hiện thực với khả năng tiếp thu tiềm năng. Khả năng tiếp thu được hiện thực hóa hướng tới chuyển đổi và khai thác, trong khi khả năng tiềm tàng hướng tới thu nhận và đồng hóa thông tin mới.
Do đó, một nhà lãnh đạo cần nắm bắt được chính xác khả năng tiếp thu của các thành viên để tạo ra giá trị, củng cố nỗ lực từ đó tạo ra động lực giúp các thành viên phát triển, học hỏi và gia tăng sự sáng tạo (Volberda và cộng sự, 2010). 10 Như vậy có thể thấy, năng lực tiếp thu càng cao nghĩa là tổ chức hiểu được kiến thức nhận được càng tốt và do đó mở khóa và nắm bắt giá trị nội tại của kiến thức đó và áp dụng nó cho các mục đích của tổ chức. Không những thế, năng lực tiếp thu phải phụ thuộc vào kiến thức liên quan trước đó, phụ thuộc vào năng lực tiếp thu của từng thành viên và cuối cùng, phải phụ thuộc vào đường đi trong quá trình hình thành tích lũy của nó theo thời gian (Roberts và cộng sự, 2012). Vì vậy, khi các thành viên trong nhóm có thể thu nhận kiến thức mới để tăng năng lực tiếp thu của họ, sẽ góp phần tăng năng lực tiếp thu của nhóm.
Từ các định nghĩa trên, để có thể đo lường một cách chính xác về năng lực tiếp thu nhóm nghiên cứu đã sử khái niệm dựa trên nghiên cứu của Jungwoo Lee và cộng sự (2013). Trong đó, năng lực tiếp thu được định nghĩa là biến đa hướng được đo lường bởi hai thành phần là khả năng thành viên và động lực của các thành viên. Kết quả làm việc nhóm Làm việc theo nhóm có nghĩa là sự kết hợp của cả sức mạnh thể chất và tinh thần của các thành viên trong cùng một nhóm với nhau, họ sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân để đạt được các mục tiêu chung của nhóm (Podsakoff và cộng sự, 2003). Do đó, kêt quả làm việc nhóm được thể hiện qua việc các thành viên trong nhóm sẵn sàng chia sẻ khó khăn và giúp đỡ lẫn nhau trong khi làm việc; trên hết, đó là mục tiêu của nhóm để đáp ứng nhu cầu công việc của tổ chức (Podsakoff và cộng sự, 2003).
Nhóm tác giả đã đưa kết quả làm việc của nhóm làm đầu ra chính và kiểm tra mối liên hệ giữa biến đầu vào của nhóm (lãnh đạo trao quyền) và các biến về quy trình của nhóm (chia sẻ tri thức và năng lực tiếp thu của các thành viên); và kiểm định vai trò trung gian của các chia sẻ tri thức và năng lực tiếp thu.