Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài và phương pháp thực hiện nghiên cứu. Chương 2 này có mục đích trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, gồm lý thuyết về kỹ năng “cứng” và “mềm” trong công việc, lý thuyết về kết quả công việc và mối liên hệ kỹ năng công việc và kết quả công việc.2 Khái niệm kỹ năng “cứng” và kỹ năng “mềm” trong công việc Định nghĩa về kỹ năng “cứng”, kỹ năng “mềm” trong công việc và các thuật ngữ liên quan đã được bàn đến trong nhiều báo cáo bởi nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả, cũng như nhiều tổ chức. Kỹ năng “cứng” (hard skills) hay kỹ năng kỹ thuật (technical skills), kỹ năng nhận thức (cognitive skills) là những thuật ngữ được các nhà nghiên cứu sử dụng để cùng chỉ các kỹ năng có liên quan đến khả năng kỹ thuật cụ thể hoặc kiến thức thực tế vững chắc cần thiết để làm một công việc (Fan et al., 2005; Shakir, 2009; Verica và Marko, 2011; Hsin và Xie, 2012); kỹ năng “cứng” thường gắn với trình độ chuyên môn, kiến thức chuyên môn hay bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn (Nguyễn Hồng Vân và cộng sự, 2013). Theo Shakir (2009) kỹ năng “cứng” đề cập đến những quy trình kỹ thuật và công việc thực tế thường dễ dàng quan sát, xác định số lượng và đo lường; việc đào tạo các kỹ năng cứng cho sinh viên mới ra trường là tương đối dễ dàng vì họ đã có được những kiến thức cần thiết trong trường đại học.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã có tác động đáng kể đến sự đòi hỏi yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động về kỹ năng “cứng” (Snyder et al. Theo Hsin và Xie (2012), mỗi cá nhân trong xã hội để có được những kỹ năng “cứng” phải trải qua một quá trình học tập lâu dài mà thông thường được giáo giáo dục và đào tạo bởi gia đình, nhà trường, từ những kiến thức tư duy cơ bản ở những bậc học thấp (nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học…) đến những kiến thức 7 chuyên sâu ở những bậc học cao hơn (trung cấp, cao đẳng, đại học…). Do vậy, kỹ năng “cứng” hay kỹ năng nhận thức dễ dàng được đánh giá và đo lường qua điểm số, được kiểm chứng bởi bằng cấp và quá trình đào tạo. Khái niệm kỹ năng “mềm” không còn là mới đối với bậc giáo dục đại học, Hiệp hội giáo dục kỹ thuật Mỹ đã đề cập đến các kỹ năng mềm từ năm 1950, tuy nhiên việc đào tào các kỹ năng “mềm” vẫn còn khá yếu ở trong các chương trình khoa học và kỹ thuật (Zhang, 2012).
Kỹ năng mềm, hay kỹ năng phi nhận thức (non-cognitive skills) là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng tương tác quan trọng trong cuộc sống con người như: kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới… (Nguyễn Hồng Vân và cộng sự, 2013). Kỹ năng mềm được định nghĩa như các kỹ năng hành vi cần thiết để ứng dụng những kỹ năng kỹ thuật và kiến thức vào nơi làm việc (Rainsbury et al.3 Sự khác biệt và tầm quan trọng của kỹ năng “cứng” và kỹ năng “mềm” trong công việc Kỹ năng “cứng” và kỹ năng “mềm” có sự khác biệt và tầm quan trọng khác nhau đối với sự thành công của từng nghề nghiệp. Theo Han (2011) và Đỗ Nguyễn Hữu Lộc (2012), có ba sự khác biệt chính giữa hai nhóm kỹ năng này: Một là, kỹ năng cứng được thể hiện qua chỉ số thông minh IQ (Intelligence Quotient) và liên quan đến bán cầu não trái – trung tâm tư duy, còn kỹ năng “mềm” thể hiện qua chỉ số cảm xúc EQ (Emotional Quotient) và liên quan đến bán cầu não phải – trung tâm cảm xúc. Hai là, kỹ năng “cứng” mang tính cứng nhắc, còn kỹ năng “mềm” mang tính mềm dẻo, linh động tùy thuộc vào hoàn cảnh và môi trường.
Ba là, kỹ năng “cứng” có thể được học tại trường, còn kỹ năng “mềm” thường được lĩnh hội qua trải nghiệm. Cũng theo Han (2011), tùy thuộc vào nghề nghiệp mà tầm quan trọng của mỗi nhóm kỹ năng sẽ khác nhau, có thể chia tầm quan trọng của từng kỹ năng đối 8 với nghề nghiệp thành ba nhóm như sau: Một, nhóm nghề nghiệp cần kỹ năng “cứng” và một ít kỹ năng “mềm”, những người làm trong nghề này có thể không giỏi giao tiếp với mọi người xung quanh nhưng họ lại rất thành công với sự nghiệp của họ (ví dụ như nhà vật lý thiên tài Albert Einstein). Hai, nhóm nghề nghiệp cần cả hai kỹ năng “cứng” và kỹ năng “mềm” – rất nhiều ngành nghề cần cả hai kỹ năng này – ví dụ như nghề kế toán hay nghề luật sư, họ cần phải am hiểu các quy tắc kế toán hoặc pháp luật nhưng họ cũng phụ thuộc vào quan hệ bán hàng cho các khách hàng để xây dựng sự nghiệp thành công. Để có thể đàm phán tốt với khách hàng đòi hỏi họ phải có kỹ năng “mềm” tuyệt vời như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quan hệ v.v… Ba, nhóm nghề nghiệp cần chủ yếu kỹ năng “mềm” và một ít kỹ năng cứng – ví dụ nghề bán hàng.
Một nhân viên bán xe hơi không thực sự cần phải biết nhiều về xe ô tô, chỉ cần nhiều hơn một chút so với người tiêu dùng. Công việc của người bán hàng đơn thuần là phụ thuộc nhiều vào các khả năng của mình để có thể thương thảo với khách hàng, như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết phục, và các kỹ năng khác để có thể thành công trong công việc. Nguyễn Hồng Vân và công sự (2013) chỉ ra rằng qua hàng loạt các tài liệu nghiên cứu, có sự phân chia nhu cầu kỹ năng trong công việc theo ngành nghề một cách tương đối như quản trị kinh doanh, kế toán, kỹ thuật, quản trị nguồn nhân lực và đa ngành. Ở ngành quản trị kinh doanh, các nghiên cứu làm nổi bật những kỹ năng đóng góp quan trọng vào việc quản lý các dự án phức tạp như các kỹ năng tổ chức, lập kế hoạch và quản lý.
Thuật ngữ kỹ năng “cứng” được sử dụng trong lĩnh vực quản trị dự án để chỉ các kỹ năng như hiểu biết về quy trình, thủ tục, các công cụ và kỹ thuật, và, kỹ năng “mềm” được dùng để chỉ các yếu tố quan trọng liên quan đến con người: truyền thông, làm việc nhóm, lãnh đạo, quản lý xung đột, đàm phán, quản lý nguồn nhân lực, hành vi đặc trưng, học tập và phát triển, tính chuyên nghiệp và đạo đức. Ở những ngành nghề như kế toán và các ngành kỹ thuật, kỹ năng vững chắc về kiến thức chuyên môn; kiến thức tổng quát về tổ chức, kinh doanh và công nghệ thông tin được đánh giá cao bên cạnh các kỹ năng tương tác cá nhân như giao tiếp, 9 làm việc nhóm, giải quyết vấn đề sáng tạo (Muda et all, 2009, May và Strong, 2007 trích trong Nguyễn Hồng Vân và Cộng sự 2013).4 Các yếu tố kỹ năng cứng và các yếu tố kỹ năng mềm trong công việc trong các nghiên cứu trước đây 2.1 Nghiên cứu trên thế giới Kỹ năng “cứng” và kỹ năng “mềm” không phải là một kỹ năng cụ thể mà là tập hợp từ nhiều kỹ năng. Sự kết hợp của các yếu tố kỹ năng cụ thể trong từng loại kỹ năng này phụ thuộc vào đặc thù của từng ngành nghề và lĩnh vực. Trong một cuộc khảo sát của Aasheim et al.
(2009) trích trong Zhang (2012), 348 nhà quản lý trong lĩnh vực công nghệ thông tin được yêu cầu đánh giá tầm quan trọng của các kỹ năng khác nhau. Các kỹ năng mềm được đánh giá cao là trung thực/liêm chính, kỹ năng truyền đạt, kỹ năng phân tích, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tương tác, động cơ, thích ứng/linh hoạt, suy nghĩ sáng tạo, kỹ năng tổ chức, kinh nghiệm làm việc liên quan, nhận thức về xu hướng công nghệ thông tin; trong khi các kỹ năng “cứng” liên quan đến kiến thức về hệ điều hành, phần cứng, cơ sở dữ liệu, bảo mật, phát triển ngôn ngữ web, viễn thông và mạng được đánh giá thấp hơn nhiều. Nghiên cứu của Nguyen (1998) chỉ ra rằng những người kỹ sư có thể làm việc hiệu quả trong môi trường đa ngành thì ngay từ trên ghế nhà trường, sinh viên cần phải được trang bị những kỹ năng với những thuộc tính cụ thể ở nhiều lĩnh vực khác nhau như sau: (1) Lĩnh vực Khoa học Xã hội như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội, kỹ năng trình bày, kỹ năng tương tác cá nhân; (2) Lĩnh Kinh doanh / Quản lý như kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng quản lý kinh doanh, kỹ năng làm việc nhóm, các kỹ năng tính toán; (3) Lĩnh vực Máy vi tính / Công nghệ như kỹ năng máy vi tính, kỹ năng lập trình, kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng thiết kế; (4) Lĩnh vực Toán / Khoa học như kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng nghiên cứu và phát triển, kỹ năng phân tích / tổng hợp. Từ đó tác giả nghiên cứu và đưa ra bảy nhóm kỹ năng với các thuộc tính cần thiết của người kỹ sư hiện đại làm việc trong môi trường đang thay đổi - môi 10 trường đa ngành, mà ở đó người kỹ sư làm việc và tương tác với không chỉ trong lĩnh vực kỹ thuật của riêng ngành mình mà tương tác với nhiều lĩnh vực của các ngành nghề khác.
Các nhóm kỹ năng và từng thuộc tính được tác giả định nghĩa rất cụ thể.1 Bảy nhóm kỹ năng và các thuộc tính kỹ năng của người kỹ sư làm việc trong môi trường đa ngành trong nghiên cứu của Nguyen (1998) Các nhóm kỹ năng Thuộc tính 1. Kỹ năng và kiến thức - Khoa học cơ bản*: có kiến thức cơ bản về luật pháp, các khái về kỹ thuật niệm, các lý thuyết và các nguyên tắc khoa học, và hiểu biết về Là khả năng thực hành các lĩnh vực khoa học khác như hóa học, sinh học, khoa học nghề nghiệp, như sử máy tính, khoa học trái đất, khoa học môi trường, v. dụng công nghệ hiện đại. - Kỹ thuật cơ bản và ứng dụng*: có kiến thức cơ bản về pháp luật, các khái niệm, các lý thuyết và các nguyên tắc của kỹ thuật.
- Xác suất và thống kê: khả năng áp dụng phương trình toán học và các công thức để giải quyết vấn đề kỹ thuật và để làm phân tích thống kê. - Công nghệ và khoa học máy tính: kiến thức và khả năng sử dụng phần mềm và công nghệ hiện tại. - Thực hành kỹ thuật*: ứng dụng kỹ thuật, kỹ năng và phương pháp tiếp cận thực hành, phát minh và phát triển của một sản phẩm, ứng dụng các công cụ công nghệ.