Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và đóng góp của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lược khảo nghiên cứu liên quan. Chƣơng này sẽ trình bày các khái niệm, lý thuyết liên quan, khảo lƣợc các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc, mô hình nghiên cứu đề xuất.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3 sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, phƣơng pháp lấy mẫu, phƣơng pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chƣơng này sẽ phân tích và đo lƣờng mức độ tác động và tổng quan về mối quan hệ giữa hiểu biết tài chính của ngƣời dân đến ý định sử dụng Fintech trên địa bàn TP.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chƣơng này sẽ tóm tắt nội dung kết quả nghiên cứu, từ đó đƣa ra các khuyến nghị giúp các công ty Fintech xây dựng chính sách, chủ trƣơng hiệu quả giúp thúc đẩy sự phát triển sản phẩm dịch vụ Fintech tại TP. 5 TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Trong chƣơng này, tác giả đƣa ra lý do chọn đề tài nghiên cứu dựa trên thực tiễn và khoa học. Đồng thời, phát triển mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và cuối cùng là thể hiện bao quát kết cấu của khóa luận.
Từ đó, có cái nhìn bao quát về vấn đề nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƢỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chƣơng 2 đƣợc cấu trúc thành bốn phần chính. Phần đầu tiên giới thiệu một cái nhìn tổng quan về hiểu biết về tài chính và Fintech. Phần thứ hai sơ lƣợc các lý thuyết về ý định sử dụng.
Phần thứ ba tóm tắt các nghiên cứu trƣớc có liên quan. Phần cuối cùng của chƣơng đề cập đến mô hình nghiên cứu đề xuất. Tổng quan về hiểu biết tài chính và fintech 2. Hiểu biết tài chính Hiểu biết tài chính (financial literacy), đƣợc định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau và ngày càng phức tạp hơn.
Theo định nghĩa cơ bản nhất, hiểu biết tài chính liên quan đến năng lực quản lý tiền bạc của một ngƣời (Jelley, 1958) Theo Noctor, Stoney, and Stradling (1992), hiểu biết tài chính là mức độ đƣa ra các đánh giá và quyết định hiệu quả trong việc sử dụng và quản lý tiền bạc. Khái niệm hiểu biết tài chính của Remund (2010) lại là thƣớc đo mức độ mà một ngƣời hiểu các khái niệm tài chính quan trọng và có khả năng cũng nhƣ sự tự tin để quản lý tài chính cá nhân thông qua việc quyết định, lập kế hoạch ngắn hạn và dài hạn hợp lý, đồng thời quan tâm đến các sự kiện trong đời sống và các điều kiện kinh tế đang thay đổi. Nhìn chung, khái niệm về hiểu biết tài chính là đa chiều, không chỉ thể hiện về kiến thức mà còn bao gồm kỹ năng, thái độ và thực tế hành vi. Khái niệm Fintech là viết tắt của cụm từ Financial Technology, có nghĩa là công nghệ tài chính.
Arner và ctg (2015) cho rằng thuật ngữ Fintech đã có từ những năm 1990 do Citigroup khởi xƣớng. Tuy nhiên năm 1972, thuật ngữ này đã đƣợc Bettinger (1972) định nghĩa Fintech là từ viết tắt của công nghệ tài chính, kết hợp kiến thức chuyên môn của ngân hàng với kỹ thuật khoa học quản lý hiện đại và máy tính. Bên cạnh những giải thích về Fintech bắt nguồn từ những năm 70 và 90 của thế kỷ 20, rất nhiều cách giải thích cho thuật ngữ này đã đƣợc đề xuất trong những năm gần đây. 7 Bernardo (2017) nhấn mạnh rằng kỷ nguyên Fintech 4.0 là thời kỳ mà các công ty Fintech sẽ kết nối với các tổ chức tài chính truyền thống.
Nhìn chung, các định nghĩa về Fintech đều hƣớng đến Fintech là một công cụ cung cấp dịch vụ tài chính thông qua công nghệ. Phân loại Có nhiều cách phân loại các lĩnh vực hoạt động chính của Fintech. Phân loại theo đối tượng sử dụng: các sản phẩm Fintech đƣợc chia thành 2 nhóm chính: Nhóm 1: Phục vụ ngƣời tiêu dùng: cung cấp giải pháp, công cụ kỹ thuật số để cải thiện các hoạt động tài chính nhƣ vay mƣợn, quản lý tài chính, tài trợ vốn,. Nhóm 2: Back-office: Cung cấp giải pháp công nghệ cho các tổ chức phát hành hoặc đại lý phân phối nhƣ nhận diện ngƣời dùng, bảo mật thông tin, quản trị rủi ro,.
Phân loại theo lĩnh vực hoạt động chính: Thanh toán và Chuyển tiền: Các ứng dụng thanh toán di động; Dịch vụ chuyển tiền quốc tế; Công nghệ thanh toán không tiếp xúc và thanh toán bằng mã QR. Cho Vay và Tín dụng: Các nền tảng cho vay P2P; Dịch vụ cho vay cá nhân trực tuyến; Công nghệ đánh giá tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng. Giao dịch và Đầu tƣ: Ứng dụng giao dịch chứng khoán trực tuyến; Robo- advisors cung cấp dịch vụ tƣ vấn đầu tƣ tự động; Blockchain và tiền điện tử (cryptocurrency). Quản lý Tài sản và Tài chính: Các ứng dụng quản lý tài sản và tài chính cá nhân; Công nghệ tự động gửi tiền vào quỹ đầu tƣ (robo-saving).
Bảo hiểm: Insurtech bao gồm cả bảo hiểm tự động và bảo hiểm y tế; Các dịch vụ so sánh giá và lựa chọn bảo hiểm. Phát triển và Quản lý Doanh nghiệp: Dịch vụ thanh toán và quản lý tài chính doanh nghiệp; Dịch vụ quản lý doanh nghiệp trực tuyến. Xác thực và An ninh Tài chính: Công nghệ xác thực ngƣời dùng và giao dịch tài chính; Giải pháp bảo mật nhƣ mã OTP. Dịch vụ tài chính đặc biệt: Các dịch vụ tài chính dành cho ngƣời gửi tiền và ngƣời nhận tiền ở nƣớc ngoài; Giải pháp tài chính dành cho ngành công nghiệp nhƣ 8 tài chính bất động sản, tài chính nông nghiệp.
Mối quan hệ tƣơng quan giữa hiểu biết tài chính với Fintech Vissing và Jorgensen (2003) và Guiso và Jappelli (2005) cho rằng việc hiểu biết tài chính sẽ có tác động đến việc quyết định có nên sử dụng sản phẩm tài chính đó hay không. Dù chƣa có bất kỳ nghiên cứu nào chứng minh, nhƣng mức độ hiểu biết tài chính cao hơn đƣợc xem có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng Fintech. Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) Hình 2.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA (Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1969) Thuyết hành động hợp lý TRA là một mô hình lý thuyết quan trọng trong lĩnh vực tâm lý xã hội và hành vi ngƣời tiêu dùng, đƣợc xây dựng từ năm 1967 bởi Icek Ajzen và Martin Fishbein và đƣợc hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian. TRA tập trung vào việc dự đoán và hiểu hành vi tiêu dùng dựa trên 2 yếu tố: - Thái độ: Đƣợc đánh giá thông qua cảm nhận các đặc tính của sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên ý thức cá nhân và kỳ vọng về những lợi ích mà sản phẩm hoặc dịch vụ đó mang lại.
Thái độ bao gồm cả những cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực về sản phẩm và dịch vụ, từ đó có thể có thể dự đoán mức độ ƣu tiên trong việc lựa chọn của họ. - Chuẩn chủ quan: Là tác động của ngƣời khác trong môi trƣờng xã hội của ngƣời dùng đối với quyết định của họ. Nó đo lƣờng mức độ mà ngƣời dùng cảm thấy áp lực từ gia đình, bạn bè, hoặc xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. Mức độ thân thiết càng cao thì ý định tin và hành động 9 theo càng lớn.
Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour - TPB) Để bổ sung cho hạn chế của mô hình TRA, Ajzen (1985) đã đƣa ra Thuyết hành vi dự định TPB với thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi và đƣợc xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Eagly và Chaiken (1993)).2: Mô hình thuyết hành vi dự định TPB (Nguồn: Ajzen, 1985) Mô hình TPB bao gồm các yếu tố: - Thái độ dẫn đến hành vi (Attitude): Thái độ của một ngƣời đối với một hành vi cụ thể ảnh hƣởng đến khả năng thực hiện hành vi đó. Theo Ajzen (1991), thái độ thể hiện việc một cá nhân có thiện chí hay không đối với kết quả của một hành vi cụ thể. Thái độ tích hợp cả yếu tố tích cực và tiêu cực. - Chuẩn chủ quan (Subjective Norm): Là sự thể hiện của ý kiến và áp lực từ ngƣời khác đối với hành vi đó, chẳng hạn nhƣ ý kiến của gia đình, bạn bè.
- Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioural Control): Đánh giá sự tự quản lý và khả năng kiểm soát của ngƣời dùng đối với hành vi, khi họ thấy có khả năng kiểm soát hành vi và vƣợt qua rào cản, họ có khả năng cao hơn để thực hiện hành vi đó, cụ thể là khi ngƣời tiêu dùng dự định sử dụng sản phẩm thì họ sẽ sử dụng sản phẩm trong thời gian gần nhất có thể. Thuyết chấp nhận công nghệ (Technology acceptance model - TAM) Kế thừa lý thuyết TRA, Davis (1989) thiết lập mô hình TAM với mục đích giúp hiểu rõ hơn về những yếu tố chung nào làm cho ngƣời dùng tin tƣởng và chấp nhận công nghệ mới dẫn đến giải thích ý định sử dụng trên một phạm vi lớn. TAM là mô hình đƣợc thiết kê chuyên về đánh giá hành vi sử dụng công nghệ (Mathieson 10 và cộng sự, 2001) và là mô hình lý thuyết cơ bản đƣợc dùng trong việc dự đoán mức độ ngƣời dùng chấp nhận sử dụng đối với nhiều ứng dụng hệ thống của các doanh nghiệp cung ứng khác nhau (Chin và Todd, 1995). Theo Davis (1989), mô hình TAM gồm các yếu tố chính: - Tính dễ sử dụng cảm nhận (PEOU): Ngƣời dùng đánh giá mức độ dễ dàng trong việc sử dụng một hệ thống, dịch vụ hay công nghệ.
- Tính hữu ích cảm nhận (PU): Ngƣời dùng đánh giá mức độ hữu ích của công nghệ trong việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể. - Các yếu tố bên ngoài: Đây là các yếu tố bên ngoài nhƣ môi trƣờng, tiềm năng thay đổi công việc, và áp lực từ ngƣời khác có thể tác động đến PEOU và PU.3: Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Nguồn: Davis, 1989) 2. Lý thuyết hợp nhất về chấp nhận sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology - UTAUT) Là một nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học và quản lý, đƣợc Venkatesh, Morris và Davis (2003) phát triển nhằm kiểm tra sự chấp nhận công nghệ bằng cách tiếp cận thống nhất hơn. UTAUT kết hợp các nhân tố từ các mô hình trƣớc đó nhƣ TAM, TRA, TPB, MM,.
Theo Thomas và ctg (2013), mô hình này giải thích sự chấp nhận và sử dụng công nghệ.