CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lợi nhuận doanh nghiệp Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp Theo PGS.TS Lưu Thị Hương (2005), lợi nhuận trước thuế hay thu nhập trước thuế của doanh nghiệp được hiểu là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để đạt được doanh thu đó. Lơị nhuận trước thuế của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động bất thường. Lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ và chi phí hoạt động kinh doanh.
Lợi nhuân trước thuế= Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh + Lợi nhuận từ các hoạt động khác. Lợi nhuận sau thuế (thu nhập sau thuế) của doanh nghiệp Lợi nhuận sau thuế là chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp = Lợi nhuận trước thuế -Thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi nhuận là một chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, là nguồn quan trọng để doanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sản xuất (PGS.TS Lưu Thị Hương ,2005). Các chỉ số phản ánh lợi nhuận doanh nghiệp 4 Lợi nhuận không phải là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt động của một doanh nghiệp. Bởi vì lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng nên chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chủ quan, khách quan.
Do vậy để dánh giá chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp, người ta phải kết hợp chỉ tiêu lợi nhuận với các chỉ tiêu về tỉ suất lợi nhuận như tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữa, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản v.TS Lưu Thị Hương ,2005). Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS- Return On Sale) Theo Nguyễn Tuyết Khanh (2017), ROS là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận với tổng doanh thu trong kỳ. Chỉ tiêu này cho chúng ta biết một đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, hay nói cách khác lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Công thức: ROS= Nếu các yếu tố khác không thay đổi thì ROS càng cao thì hiệu quả kinh doanh càng lớn.
ROS tăng có thể là doanh nghiệp tăng giá bán nhưng không làm giảm sản lượng tiêu thụ hoặc việc kiểm soát chi phí của doanh nghiệp đã tốt hơn nên một đồng doanh thu thuần sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận hơn. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA- Return On Asset) ROA là chỉ số thể hiện sự tương quan giữa mức sinh lời của một doanh nghiệp trên tổng tài sản của nó. Tỷ số này cung cấp về mức độ hiệu quả của nhà quản lý doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản của mình để tạo ra thu nhập. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản được thể hiện dưới dạng phần trăm.
Tuy nhiên, ROA không được sử dụng và ứng dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc vào nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Công thức: ROA = ROA cao so với cùng ngành thường thu hút các nhà đầu tư hơn nhưng đặt bản thân ở vị thế là nhà đầu tư, ta phải xem xét tại sao ROA của doanh nghiệp cao? Trường 5 hợp ROA cao do lợi nhuận sau thuế tăng nhiều hơn tổng tài sản là xu hướng tốt, thể hiện việc công ty đã cải thiện hiệu suất sử dụng tài sản để tăng lợi nhuận. Trường hợp hai, ROA cao do tổng tài sản giảm mạnh, nếu giảm đó là do thanh lý tài sản cố định chưa hết khấu hao thì nó có thể là dấu hiệu của việc thiếu hụt vốn hoặc phá sản, vì doanh nghiệp sẽ không tự nhiên bán máy móc quan trọng nếu như quá trình sản xuất đang thuận lợi. Ngoài ra, ROA còn được xác định theo phương pháp Dupont theo công thức: ROA = = ROS x AU Trong đó AU là hiệu suất sử dụng tổng tài sản của doanh nghiệp.
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản là chỉ số để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Chỉ số này cho biết bình quân một đồng tài sản của doanh nghiệp trong một kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu và tài sản được sử dụng bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản được luân chuyển hiệu quả, cần ít tài sản hơn để duy trì mức doanh thu mà doanh nghiệp đã đặt ra. Còn nếu chỉ tiêu này thấp, chứng tỏ tài sản luân chuyển chậm.
(Nguyễn Tuyết Khanh ,2017) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE- Return On Equity): ROE là thước đo hiệu quả tài chính được tính bằng cách chia thu nhập ròng cho vốn chủ sở hữu của cổ đông. Bởi vì vốn chủ sở hữu của cổ đông bằng với tài sản của doanh nghiệp trừ nợ, ROE được coi là lợi nhuận trên tài sản ròng, là thước đo đánh giá mức độ hiệu quả của việc quản lý sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp. ROE được biểu thị bằng phần trăm và có thể được tính cho bất kỳ công ty nào nếu thu nhập ròng và vốn chủ sở hữu đều là số dương. Thu nhập ròng được tính trước khi trả cổ tức cho cổ đông phổ thông và sau khi trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi và lãi cho người cho vay.
Công thức: ROE = 6 ROE của một doanh nghiệp cao so với ROE trung bình ngành thường chứng tỏ rằng nó sử dụng vốn hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành hoặc doanh nghiệp sử dụng nợ nhiều hơn. Tuy nhiên, không phải lúc nào ROE càng cao thì càng tốt. ROE tăng cao cũng có thể do các nguyên nhân sau: Thứ nhất, doanh nghiệp sử dụng nợ nhiều hơn so với vốn tự có hoặc sử dụng quá nhiều nợ, khi đó vốn chủ sở hữu thường rất nhỏ, khiến cho mẫu số của ROE nhỏ dẫn đến tăng vọt trong tỷ lệ. Mặc dù ROE cao nhưng chưa chắc doanh nghiệp đã lãi trong kỳ vì phải chi trả khoản chi phí lãi vay lớn từ các khoản nợ hiện hành.
Thứ hai là khi trường hợp lợi nhuận không nhất quán. Trường hợp này xảy ra khi doanh nghiệp có lãi sau nhiều năm thua lỗ liên tục. Sau nhiều năm thua lỗ, vốn chủ sở hữu thường sẽ giảm xuống đáng kể, điều này làm giảm mẫu số trong công thức tính ROE khiến nó cao hơn rất nhiều so với bình thường. Vậy nên, khi sử dụng tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nhà đầu tư không chỉ nên nhìn vào ROE của năm hiện hành mà nên có các so sánh với ROE của các năm trước.
Ngoài ra, theo phương pháp Dupont, để phân tích ROE có thể tách thành 3 nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Công thức: ROE = = ROS x AU x EM Trong đó, EM là hệ số nhân vốn hay còn là đòn bẩy tài chính bình quân. Chỉ số này thể hiện mối quan hệ giữa tổng tài sản và nguồn vốn sẵn có của doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính tăng, chứng tỏ doanh nghiệp đang vay vốn bên ngoài nhiều hơn để sản xuất kinh doanh. (Nguyễn Tuyết Khanh ,2017) Cả ROA và ROE đều là các thước đo về cách công ty sử dụng các nguồn lực của mình.
Về cơ bản, ROE chỉ đo lường lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của công ty, 7 loại trừ các khoản nợ phải trả. Do đó, ROA chiếm nợ của một công ty và ROE thì không. Công ty càng sử dụng nhiều đòn bẩy và nợ thì ROE càng cao so với ROA. Mối quan hệ giữa giá dầu và lợi nhuận doanh nghiệp ngành dầu khí Stephen A.
Theo APT, tỷ suất sinh lời của chứng khoán (lợi nhuận của chứng khoán) là một hàm số tuyến tính của tập hợp các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động. Lý thuyết được xác định bằng phương trình k nhân tố: Rj= αj + βj,1* F1 + βj,2* F2 + βj,3* F3 +…+ βj,k* Fk + uj Các yếu tố F được sử dụng trong mô hình có thể là lạm phát, GDP, rủi ro chính trị, giá dầu, tỷ giá hối đoái… Giá dầu được coi là một nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Giá của ngành dầu khí là yếu tố cơ bản quyết định việc dự trữ có khả thi về mặt kinh tế hay không. Về cơ bản, các rào cản địa chất càng cao để dễ khai thác, thì rủi ro về giá càng cao mà một dự án nhất định phải đối mặt. Điều này là do việc khai thác không theo cách thông thường thường tốn nhiều tiền hơn so với một mũi khoan thẳng đứng xuống một khoản tiền đặt cọc.
Điều này không có nghĩa là các công ty dầu khí tự động ngừng hoạt động đối với một dự án trở nên vô hiệu do giá giảm. Thông thường, các dự án này không thể nhanh chóng kết thúc và sau đó khởi động lại. Các cú sốc giá dầu xuất hiện trong thập niên 1970 và những hệ lụy kèm theo trong nền kinh tế như tình trạng lạm phát cao, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, sản lượng sản xuất sụt giảm nghiêm trọng… Việt Nam là một quốc gia vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu xăng dầu nên không thể tránh khỏi những ảnh hưởng mạnh mẽ của biến động giá dầu. (Nguyễn Thu Hà, Lê Việt Trung, 2015) Theo PGS Hà Minh Sơn, ThS Tăng Thị Hiền (2015) thì mỗi lần giá dầu biến động đều gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dầu khí do đây là nguyên liệu quan trọng trong sản xuất hàng hóa của ngành này.
Khi giá dầu tăng là nguyên nhân làm cho giá nguyên liệu đầu vào tăng lên. Việc tăng giá dầu 8 làm tăng doanh thu, lợi nhuận của các doanh nghiệp trong lĩnh vực thăm dò khai thác nhưng có thể làm giảm lợi nhuận trong lĩnh vực lọc hóa dầu do chi phí nguyên liệu đầu vào (dầu thô) tăng. Ngoài ra, chi phí vận chuyển cũng bị tác động vì chi phí nhiên liệu thường chiếm từ 15-30% tổng chi phí vận chuyển, tùy theo loại hình vận chuyển. Mặt khác, giá dầu giảm có thể là cơ hội đối với các doanh nghiệp dầu khí kinh doanh đa lĩnh vực khi các công ty này sẽ giảm được rủi ro trong kinh doanh so với các doanh nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực thượng nguồn.
Các doanh nghiệp có lĩnh vực/cơ cấu lĩnh vực kinh doanh khác nhau sẽ có những ảnh hưởng khác nhau.