Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận tác động của dòng tiền đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Tong quan nghiên cứu về tác động của dòng tiền đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Tổng quan nghiên cứu về dòng tiền Bắt dau từ cuối thé ki XX, các nhà kinh tế học đã bắt đầu nghiên cứu về dòng tiền, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và ảnh hưởng của dòng tiền đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu đầu tiên phải nhắc đến là nghiên cứu của Jensen (1986) về các van đề liên quan đến dòng tiền tự do, và cũng là nghiên cứu đầu tiên đưa ra lý thuyết về dòng tiền tự do.
Lý thuyết này có thé được hiểu như sau: các nhà quan lý của các công ty có dòng tiền tự do nhiều sẽ có khuynh hướng mang đi đầu tư vào các dự án có khả năng sinh lời thấp, thậm chí, giá trị hiện tại ròng âm, hơn là trả cổ tức cho các cô đông. Các nhà quản lý công ty là những người đại diện cho cô đông, và giữa hai đối tượng này, hình thành một mối quan hệ mâu thuẫn nhau về quyền lợi, và nguồn gốc của mâu thuẫn này chính là mục đích sử dụng dòng tiền tự do hiện có của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp — những cô đông của doanh nghiệp, thì muốn dòng tiền này được chỉ trả cho họ dưới dạng cô tức. Tuy nhiên, việc chi trả này sẽ làm giảm các nguồn lực dưới sự giám sát của các nhà quản lý, theo đó, giảm đi “quyền lực” của họ.
Do đó, các nhà quản lý doanh nghiệp có khuynh hướng đầu tư, mở rộng và đề các công ty tăng trưởng vượt xa quy mô tối ưu của nó. Sự tăng trưởng làm tăng quyền lực của họ, bởi vì nó làm gia tăng các nguồn lực dưới sự giám sát của họ. Theo Murphy (1985), điều này cũng đồng thời làm tăng tiền công của họ, bởi vì sự thay đối về tiền thù lao trả cho các nhà quản lý có quan hệ cùng chiều với sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Do đó, họ có khuynh hướng tăng dòng tiền này, và khả năng đầu tư vào các dự án không tốt, các dự án mà không được tài trợ bởi thị trường tài chính.
Li (2002) nghiên cứu về van dé dòng tiền tự do và chi phí người đại diện tai Trung Quốc. Trong nghiên cứu này, ngành công nghiệp rượu được đưa vào phân 6 tích, so sánh với các ngành khác, và dữ liệu nghiên cứu là các công ty công lập tại quốc gia này. Kết luận được tìm thấy là có tồn tại vẫn đề về người đại diện nảy sinh liên quan đến dòng tiền tự do của doanh nghiệp, hay nói cách khác, các đối tượng của nghiên cứu chịu sự chi phối của lý thuyết về dòng tiền tự do. Ngoài ra, nghiên cứu còn đưa ra một số đề xuất nhằm kiểm soát chi phí đại diện từ quan điểm tài chính doanh nghiệp như chính sách cổ tức, vay nợ, tăng thù lao của các nhà quản lý tương xứng với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu mang lại lợi ích cho công tác quản tri cho các doanh nghiệp nhà nước với lợi nhuận lớn và dòng tiền nhiều hơn. Nghiên cứu về lý thuyết dòng tiền tự do và cơ cấu quản lý của doanh nghiệp, Huajun và Yiming (2007) sử dụng dữ liệu là các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến từ 2000 — 2004, nghiên cứu về mối liên hệ giữa việc đầu tư quá mức dòng tiền tự do với sự kiểm soát của chính phủ đối với doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu tìm thấy ở các doanh nghiệp có sự chi phối càng lớn từ chính phủ thì càng chịu sự chi phối của lý thuyết dòng tiền tự do, và sự đầu tư quá mức dòng tiền càng nhiều. Griffin và các cộng sự (2010) tiễn hành tìm hiểu mối quan hệ về các vấn đề về người đại diện với mức phí thù lao kiểm toán, thông qua đó, kiểm định giả thuyết về dòng tiền tự do của Jensen.
Đối với các công ty có dòng tiền tự do nhiều, khả năng nảy sinh mâu thuẫn về quyền lợi cao, các kiểm toán viên có động cơ tăng mức phí kiểm toán dé bù đắp cho việc chịu đựng rủi ro, và việc hỗ trợ các van đề về người đại diện liên quan đến dòng tiền tự do. Phí kiểm toán có thé cao hơn cho những công ty có dòng tiền tự do cao, cơ hội tăng trưởng thấp nếu nó khuyến khích các nhà quản lý ở các doanh nghiệp đầu tư một cách không khôn ngoan và ngụy trang hành động này băng các tác động đến các báo cáo tài chính. Nghiên cứu đã chỉ ra răng, phí kiểm toán của những công ty có dòng tiền tự do cao, cơ hội tăng trưởng thấp và các công ty có dòng tiền tự do cao, cơ hội tăng trưởng cao cao hơn đáng ké phí kiểm toán của những công ty có dòng tiền tự do thấp, cơ hội tăng trưởng thấp, và những công ty có dòng tiền tự do thấp, cơ hội tăng trưởng cao — kết quả này đồng thuận với giả thuyết về dòng tiền tự do. Các 7 kiêm toán viên sẽ tính mức phí kiểm toán cao hơn nếu họ biết rằng công ty có khả năng chỉ trả bởi vì họ có dòng tiền dư thừa.
Karpavicius và Yu (2011), đã nghiên cứu kiểm định giả thuyết về dòng tiền tự do, đồng thời phân tích tác động của việc gia tăng tỷ lệ nắm quyên sở hữu của tổ chức tài chính đối với doanh nghiệp. Tỷ lệ nam quyền sở hữu của tô chức tài chính đối với doanh nghiệp càng lớn thì sẽ giảm vấn đề về người đại diện liên quan đến dòng tiền tự do. Nghiên cứu kết luận rằng việc gia tăng tỷ lệ nam quyền sở hữu của tổ chức tài chính đối với doanh nghiệp dẫn đến kết quả đòn bẩy tài chính và số tiền chỉ trả ra đều giảm, và số tiền giữ lại công ty rất cao. Đồng thời, nghiên cứu cũng đã chứng minh được vì sao các công ty lại giữ số lượng tiền mặt lớn, tỷ lệ nợ và số tiền chỉ trả ra giảm trong suốt 30 năm qua tại Mỹ.
Sự gia tăng tỷ lệ quyền sở hữu của tô chức tài chính đối với doanh nghiệp sẽ thay thế các cơ chế khác trong việc hạn chế các van đề về người đại diện liên quan đến dòng tiền vượt mức. Quan sát vào ty lệ nợ, và tỷ lệ chi trả, bởi vì sự giám sát một cách có hiệu quả của các tô chức đầu tư, mức nợ thấp hon, và tỷ lệ chi trả thấp hơn, dẫn đến lượng tiền nắm giữ cao, hơn là đầu tư vào các dự án không tốt. Cuối cùng, lượng tiền mặt đồi nhiều giúp công ty giảm các vấn đề về thiếu hụt đầu tư, và tránh rủi ro bị thâu tóm. Nghiên cứu này đã chứng minh được giả thuyết về dòng tiền tự do đối với các đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn 30 năm từ 1980 — 2009.
Sự gia tăng tỷ lệ quyền sở của tô chức tài chính đối với doang nghiệp có ảnh hưởng cùng chiều đến lượng tiền mặt cất giữ tại các công ty, tuy nhiên, nó lại tác động ngược chiêu lên tỷ lệ đòn bây và tỷ lệ chỉ trả. T ông quan nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh Anup & Charles (1996) nghiên cứu về mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động doanh nghiệp với các cơ chế về kiểm soát vấn đề người đại diện phát sinh giữa người chủ và người quản lý doanh nghiệp. Nghiên cứu sử dụng hệ số Tobin’s Q để đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, đồng thời, sử dụng phương pháp ước lượng bình quân bé nhất với dữ liệu chéo, nghiên cứu tìm được mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động doanh nghiệp với mức độ sở hữu của các nhà quản lý bên trong hay chính người chủ quản lý, và mức độ sở hữu của các cổ đông bên ngoài, 8 mức độ tài trợ nợ và các hoạt động kiểm soát doanh nghiệp. Mức độ sở hữu của các nhà quản lý doanh nghiệp càng lớn, sẽ dẫn đến một hiệu quả hoạt động doanh nghiệp tốt hơn.
Ngược lại, mức độ sở hữu càng lớn của các cô đông bên ngoài doanh nghiệp càng dẫn đến một hiệu quả hoạt động kém đi. Tuy nhiên, mức độ tài trợ nợ có thé được sử dụng dé kiểm soát sự tác động này. Ni và các cộng sự (2019) đã nghiên cứu tác động của dòng tiền đến giá trị doanh nghiệp, dit liệu được lay từ 7598 mẫu quan sát của công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Đài Loan trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tư, dòng tiền từ hoạt động tài chính cũng được đưa vào dé đánh giá giá trị doanh nghiệp.
Kết qua cho thay dòng tiền thu từ hoạt động tài chính và dòng tiền chỉ ra cho hoạt động đầu tư có tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có tác động ngược lại đến giá trị của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Đài Loan. Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Cần Thơ. Với biến phụ thuốc là tỷ suất lợi nhuận/Doanh thu và các biến độc lập là tốc độ tăng doanh thu của doanh nghiệp, số hình thức hỗ trợ của nhà nước, số năm hoạt động, quy mô doanh nghiệp, tác giả đã đưa ra một số kết luận quan trọng sau. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt hơn doanh nghiệp siêu nhỏ.
Nguyên nhân là do doanh nghiệp nhỏ hoặc vừa có điều kiện về vốn, lao động tốt hơn, quy mô thị trường cũng rộng hơn nên góp phan hỗ trợ khá tốt cho hoạt động kinh doanh. Đồng thời khi có sự gia tăng về quy mô sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thé gia tăng sản xuất đáp ứng kịp thời lượng cầu khi có sự thiếu hụt lượng cung trên thị trường và vì vậy sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho các doanh nghiệp. Lê Minh Trường (2021) đã nghiên cứu về tác động của cấu trúc vôn đến lợi nhuận của công ty niêm yết tại sản chứng khoán HOSE trong giai đoạn từ năm 2015 — 2019. Tác giả đã xây dựng mô hình hồi quy tổng quát FGLS để nghiên cứu và khắc phục những nhược điểm của các mô hình còn lại.