Chương 1 trình bày lý do hình thành đ ề tài; mục tiêu và phạm vi nghiên cứu; ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Giới thiệu cơ sở lý thuyết của đề tài, những nghiên cứu có liên quan đến khả năng đổi mới tổ chức, đổi mới sản phẩm, dịch vụ , đổi mới quá trình, dựa trên những mô hình tham khảo để đưa ra mô hình nghiên c ứu ảnh hưởng của đổi mới tổ 4 chức đến khả năng đổi mới sản phẩm, dịch vụ và khả năng đổi mới quá trình của các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng để xây dựng, hiệu chỉnh, đánh giá các thang đo, các khái niệm nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết đã đề ra. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu bao gồm những phần chính sau: (1) Mô tả mẫu; (2) Đánh giá tính đơn hướng và giá trị hội tụ của các thang đo; (3) Đánh giá độ giá trị phân biệt của các thang đo, (4) Đánh giá độ tin cậy của thang đo, (5) Phân tích tương quan và phân tích hồi quy đa biến, (6) Kiểm định giả thuyết nghiên cứu, (7) Thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Đưa ra kết luận và kiến nghị. Trình bày tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu từ dữ liệu đã thu thập được thông qua phân tích thống kê dựa trên phần mềm SPSS 20.0, từ đó đưa kết quả nghiên cứu, ý nghĩa cũng như nh ững hạn chế của đề tài và đưa ra các kiến nghị, đề xuất. 5 CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Giới thiệu Chương này giới thiệu và đánh giá các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài.
Chỉ ra vấn đề mà đề tài còn tồn tại, những vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết. Giới thiệu các định nghĩa tổng quát; mối quan hệ của đổi mới tổ chức và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của khả năng đổi mới quá trình, đ ổi mới sản phẩm, dịch vụ; đồng thời đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Tổng quan cơ sở lý thuyết: Đề tài này kế thừa nghiên cứu trước của các tác giả César Camisón, Ana Villar – López 2.1 Mô hình nghiên cứu “Đổi mới tổ chức là khả năng đổi mới công nghệ và hiệu suất công ty” của César Camisón, Ana Villar – López Năm 2014, César Camisón và Ana Villar-López đã nghiên cứu (1) mối quan hệ giữa đổi mới tổ chức với đổi mới quá trình bằng công nghệ và (2) ảnh hưởng của đối mới tổ chức và đổi mới công nghệ lên hiệu suất công ty. Để thấy được tầm quan trọng của đổi mới tổ chức trong nghiên cứu và sự quan tâm gần đây về mối quan hê giữa các loại đổi mới và hiệu suất, nghiên cứu trước đây không cho được kết luận về những câu hỏi này.
Vấn đề chính là do những mâu thuẫn trong nhận thức và sử dụng các khái niệm đổi mới tổ chức và xu hướng nghiên cứu tác động chung của các loại đổi mới quá trình khác nhau lên lợi nhuận mà không chú ý đến một thực tế rằng các loại đổi mới quá trình khác nhau thì có thể có hiệu ứng khác nhau ảnh hưởng đến hiệu suất công ty. 6 ĐỔI MỚI QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI SUẤT TỔ CHỨC CÔNG TY CẢI TIẾN MỚI SẢN PHẨM SẢN PHẨM Hình 2. Mô hình nghiên cứu của César Camisón, Ana Villar – López 2. Đổi mới dựa trên nguồn lực - RBV (Resource-based view of innovation) Có nhiều các phân biệt đổi mới, một trong những cách phân biệt phổ biến nhất được chấp nhận là của OECD (2005) trong Oslo Manual, xác định rõ có bốn loại đổi mới: đổi mới sản phẩm, dịch vụ, đổi mới quá trình, đ ổi mới tiếp thị và đổi mới tổ chức.
Đổi mới công nghệ liên quan đến đổi mới sản phẩm, dịch vụ và đổi mới quá trình trong khi đổi mới phi công nghệ thì liên quanđ ến đổi mới tiếp thị và đổi mới tổ chức. Đổi mới dựa trên nguồn lực RBV (Resource-Based View) tạo điều kiện phân tích rõ ràng của sự đổi mới và sự kết hợp với hiệu suất (Damanpour et al, 2009; Galende & de la Fuente, 2003; Mol & Birkinshaw, 2009; Yang, Marlow & Lu, 2009). RBV cho rằng để đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh, nguồn lực doanh nghiệp đóng vai trò r ất quan trọng, công ty sẽ thành công nếu công ty trang bị các nguồn lực phù hợp nhất và tốt nhất đối với việc kinh doanh và chiến lược của công ty. 7 RBV không chỉ tập trung phân tích các nguồn lực bên trong mà nó còn liên kết năng lực bên trong với môi trường bên ngoài.
Lợi thế cạnh tranh sẽ bị thu hút về doanh nghiệp nào sở hữu những nguồn lực hoặc năng lực tốt nhất. Do vậy, theo RBV, lợi thế cạnh tranh liên quan đến sự phát triển và khai thác các nguồn lực và năng lực cốt lõi của doanh nghiệp. Theo RBV, việc triển khai và sắp xếp lại các nguồn lực giúp nâng cao năng suất và đạt được mục tiêu chiến lược cho doanh nghiệp. Đổi mới quá trình bằng công nghệ được xem là một trong những nguồn quan trọng nhất của lợi thế cạnh tranh, cụ thể: đổi mới quá trình bằng công nghệ là khả năng thực hiện các chức năng kỹ thuật hay những hoạt động lớn trong công ty bao gồm cả khả năng phát triển sản phẩm, dịch vụ mới, quy trình mới và vận hành cơ sở dữ liệu có hiệu quả.
Nghiên cứu thực nghiệm gần đây đã cung cấp bằng chứng thống kê rằng đổi mới quá trình bằng công nghệ là một yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu suất của doanh nghiệp (Ortega, 2009; Tsai, 2004). Đổi mới tổ chức (Organizational innovation - OI) Có nhiều khái niệm về đổi mới tổ chức của nhiều tác giả khác nhau. Những nghiên cứu khoa học đầu tiên về sự đổi mới trong doanh nghiệp là đổi mới về hành chính (Daft, 1978; Damanpour, 1991, Damanpour & Evan, 1984 …), là sự đổi mới liên quan đến những thay đổi trong cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực. Tuy nhiên, những bài viết gần đây lại đề cập đến đổi mới quản lý và đổi mới tổ chức.
Đổi mới tổ chức là việc thực hiện phương pháp tổ chức mới trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức lại nơi làm việc hoặc mở rộng mối quan hệ ra bên ngoài (OECD, 2005). + Đổi mới trong hoạt động kinh doanh: thường được định nghĩa bằng các hoạt động nghiên cứu, phát triển, đưa ra sản phẩm mới. Thực tế cho thấy nhiều công ty thường đổ xô đi tìm cơ hội ở cùng một nơi, đưa ra những sản phẩm mới na ná nhau, cải tiến kỹ thuật thì giống nhau. Trong khi đó ở những công ty thành công, đổi mới trong ều nghĩa rộng hơn chứ không chỉ đơn thuần về mặt sản kinh doanh bao hàm nhi phẩm hay kỹ thuật.
Đổi mới trong kinh doanh là tạo ra những giá trị mới, những 8 cảm nhận mới cho khách hàng. Những giá trị trong cuộc sống và cảm nhận của con người thì vô cùng phong phú và tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Vì vậy có thể thực hiện đổi mới trong kinh doanh ở rất nhiều khía cạnh. Trong nhiều trường hợp, những cải tiến mang đến thành công lại chẳng liên quan gì đến kỹ thuật hay sản phẩm chính của công ty.
Vấn đề khó khăn của doanh nghiệp là làm sao biết đổi mới, cải tiến những khía cạnh nào trong kinh doanh. OECD cho rằng đổi mới tổ chức trong hoạt động kinh doanh liên quan đến việc thực hiện các phương pháp mới để có thói quen và thành quy trình chẳng hạn như việc thiết lập dữ liệu để thực hiện một cách tốt nhất, cải thiện việc giữ chân nhân viên, giới thiệu hệ thống quản lý của doanh nghiệp. + Đổi mới nơi làm việc trong tổ chức là tìm phương pháp đ ể phân chia quyền hạn và trách nhiệm cho người lao động, nâng cao hiệu quả hoạt động của nhóm chức năng; Trong xã hội ngày nay với sự hội nhập kinh tế thị trường mạnh mẽ, các doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội để mở rộng sản xuất và thu hút thêm nhiều lao động. Con người chính là yếu tố quyết định cho sự thành bại của doanh nghiệp.
Vì vậy việc lựa chọn đúng lực lượng lao động có trình đ ộ, có tâm huyết với doanh nghiệp là điều quan trọng. Nhưng bên cạnh đó doanh nghiệp cũng c ần biết cách giữ nhân tài. Một trong những cách đó là cung cấp một môi trường làm việc thoải mái, đầy đủ tiện nghi trang thiết bị và đặc biệt an toàn với người lao động. Muốn làm được điều này doanh nghiệp phải làm tốt công tác tổ chức và phục vụ nơi làm việc.
Về công tác quản trị nhân sự, doanh nghiệp phải hình thành nên cơ c ấu lao động tối ưu, phải bảo đảm đủ việc làm trên cơ sở phân công và bố trí lao động hợp lý, sao cho phù hợp với năng lực, sở trường và nguyện vọng của mỗi người. Trước khi phân công bố trí hoặc đề bạt cán bộ đều phải qua kiểm tra tay nghề. Khi giao việc cần xác định rõ chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm. Đặc biệt công tác trả lương, thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất đối với người lao động luôn là vấn đề hết sức quan trọng 9 Động lực tập thể và cá nhân người lao động là yếu tố quyết định tới hiệu quả kinh tế.
Động lực cũng là yếu tố để tập hợp, cố kết người lao động lại. Trong doanh nghiệp, động lực cho tập thể và cá nhân người lao động chính là lợi ích, là lợi nhuận thu được từ sản xuất có hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp cần phân phối lợi nhuận thỏa đáng, đảm bảo công bằng, hợp lý, thưởng phạt nghiêm minh. Đặc biệt cần có chế độ đãi ngộ thỏa đáng với những nhân viên giỏi, trình độ tay nghề cao hoặc có thành tích, có sáng kiến,.
Đồng thời cũng cần nghiêm khắc xử lý những trường hợp vi phạm. Trong kinh doanh hiện đại, ở nhiều doanh nghiệp hình thức bán cổ phần cho người lao động và người lao động sẽ nhận được ngoài tiền lương và thưởng là số lãi chia theo cổ phần cũng là một trong những giải pháp gắn người lao động với doanh nghiệp bởi lẽ cùng với việc mua cổ phần người lao động không chỉ có thêm nguồn thu nhập từ doanh nghiệp mà còn có quyền nhiều hơn trong việc tham gia vào các công việc của doanh nghiệp.