Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, ngành nông nghiệp có xu hướng giảm dần về tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế chung nhưng vẫn giữ vai trò thiết yếu đối với sự ổn định kinh tế - xã hội. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế năng động hàng đầu cả nước, nơi các hoạt động dịch vụ (chiếm 53,5% GDP năm 2010) và công nghiệp - xây dựng (chiếm 45,3% GDP năm 2010) giữ vai trò chủ đạo, còn nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (1,1% GDP năm 2010). Mặc dù chiếm tỷ trọng khiêm tốn, nông nghiệp thành phố vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ, giải quyết việc làm, gia tăng thu nhập cho cư dân các huyện ngoại thành và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái ven đô.
Nông nghiệp là ngành sản xuất chịu sự chi phối trực tiếp và sâu sắc nhất từ các quy luật sinh học và các điều kiện tự nhiên như đất đai, nguồn nước, khí hậu và địa hình. Sự sinh trưởng, năng suất và cơ cấu cây trồng, vật nuôi phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm tự nhiên của từng khu vực lãnh thổ. Việc nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa điều kiện tự nhiên và thực trạng sản xuất nông nghiệp là cơ sở khoa học quan trọng để định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị phù hợp. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Đổng Thị Dung đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Địa lí với đề tài: "Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến phát triển nông nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh" dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trương Văn Tuấn tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành tháng 1/2013).
Mục đích nghiên cứu của đề tài là củng cố, vận dụng kiến thức địa lí tự nhiên vào thực tiễn nhằm làm rõ các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp thành phố, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển nông nghiệp hợp lý và hiệu quả. Để đạt được mục đích này, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thu thập tài liệu, phân tích, xử lý tổng hợp các số liệu, tài liệu từ sách, báo cáo, tạp chí, đề tài khoa học và website liên quan; đúc kết cơ sở lý luận về khoa học nông nghiệp, vai trò, đặc điểm sản xuất nông nghiệp và các nhân tố tự nhiên tác động đến nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh.
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và phân tích ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sự phát triển của nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh.
- Đánh giá khả năng phát triển nông nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Đưa ra những đề xuất giải pháp nhằm khai thác, sử dụng và phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên của từng vùng để phát triển nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh hợp lý và hiệu quả.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính TP. Hồ Chí Minh, trong đó trọng tâm nghiên cứu tập trung vào vùng ngoại thành (gồm các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ và Quận 9), nơi tập trung phần lớn quỹ đất và hoạt động sản xuất nông nghiệp của thành phố.
- Thời gian: Khóa luận tập trung khai thác và phân tích chuỗi số liệu thống kê trong giai đoạn 2005 - 2010.
- Nội dung: Tập trung phân tích ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên đến ngành trồng trọt (do trồng trọt chịu tác động trực tiếp và rõ nét từ đất đai, địa hình, nguồn nước, khí hậu; trong khi chăn nuôi của thành phố chủ yếu phát triển theo phương thức công nghiệp nên ít chịu ảnh hưởng trực tiếp từ điều kiện tự nhiên).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành địa lí và nông nghiệp, bao gồm: khái niệm nông nghiệp, ngành trồng trọt (ngành sản xuất khai thác đất đai tạo ra sản phẩm thực vật), ngành chăn nuôi, tài nguyên thiên nhiên và các thành phần tự nhiên cơ bản (địa hình, khí hậu, nguồn nước, thổ nhưỡng, sinh vật). Tác giả phân tích 4 đặc điểm mang tính quy luật của sản xuất nông nghiệp:
- Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế.
- Đối tượng sản xuất là sinh vật, cơ thể sống tuân theo các quy luật sinh học và quy luật tự nhiên.
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rõ rệt do sự không trùng khớp giữa thời gian lao động và thời gian sản xuất tự nhiên.
- Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc mật thiết vào 5 yếu tố tự nhiên cơ bản không thể thay thế lẫn nhau: nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí và chất dinh dưỡng.
Hệ thống nhân tố ảnh hưởng được tác giả phân định thành hai nhóm chính:
- Nhóm nhân tố tự nhiên: Vị trí địa lí, đất đai (nhân tố chi phối mạnh nhất đến quy mô, cơ cấu và phân bố), nguồn nước (thủy văn), địa hình (độ cao và độ dốc), khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, bức xạ) và sinh vật.
- Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội: Dân cư và nguồn lao động, tiến bộ khoa học - công nghệ, quan hệ sở hữu và chính sách nông nghiệp, nguồn vốn đầu tư và thị trường tiêu thụ nông sản.
Khóa luận quán triệt 4 quan điểm nghiên cứu địa lí truyền thống và hiện đại:
- Quan điểm hệ thống: Xem xét các hợp phần tự nhiên trong mối quan hệ tương tác, ràng buộc lẫn nhau và tác động qua lại với hoạt động sản xuất nông nghiệp.
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Đánh giá sự phân hóa không gian của các điều kiện tự nhiên trên toàn địa bàn thành phố gắn với từng vùng sinh thái nông nghiệp cụ thể.
- Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Phân tích quá trình hình thành điều kiện tự nhiên, hiện trạng sản xuất nông nghiệp trong lịch sử để dự báo xu hướng và định hướng phát triển tương lai.
- Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Đảm bảo hài hòa cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, giữ vững cân bằng sinh thái ven đô.
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp 5 phương pháp địa lí:
- Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập các báo cáo, tài liệu thống kê, văn bản chính sách chuyên ngành.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Xử lý số liệu, so sánh, đối chiếu và khái quát hóa hiện trạng nông nghiệp.
- Phương pháp sinh thái: Phân tích mối quan hệ cân bằng giữa con người, hoạt động sản xuất và môi trường tự nhiên.
- Phương pháp biểu đồ - bản đồ: Sử dụng bản đồ hành chính, phân tích bản đồ chuyên môn và trực quan hóa các chuỗi số liệu qua biểu đồ.
- Phương pháp thực địa: Tiến hành khảo sát thực tế tại các huyện ngoại thành để quan sát hình thái địa hình, thổ nhưỡng và phỏng vấn trực tiếp nông dân về ảnh hưởng của thời tiết, đất đai đến năng suất cây trồng.
Nguồn dữ liệu của khóa luận được thu thập từ các cơ quan chính thống: Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, Tổng cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP. Hồ Chí Minh, Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, Đài Khí tượng Thủy văn Khu vực Nam Bộ và các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (như Văn bản số 8566/UBND-CNN ngày 08/12/2007).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Chương I tổng hợp hệ thống khái niệm nền tảng và làm rõ vai trò của nông nghiệp đối với kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Mặc dù khu vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ trọng GDP thấp (1,1% năm 2010), giá trị sản xuất toàn ngành vẫn tăng trưởng ổn định (đạt 6.340 triệu đồng theo giá thực tế năm 2010). Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có bước tiến rõ rệt: doanh thu bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp năm 2009 đạt 138,5 triệu đồng/năm, gấp 2,2 lần so với năm 2005. Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc tận dụng lao động nông nhàn, bảo đảm an ninh lương thực cho đô thị hơn 7 triệu dân và thúc đẩy phát triển hạ tầng nông thôn.
Chương này cũng tổng kết kết quả thực hiện Văn bản số 8566/UBND-CNN ngày 08/12/2007 của UBND Thành phố về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 (tính đến tháng 6/2009):
- Đã khởi công 43 công trình, dự án với tổng mức đầu tư 63.229 triệu đồng (trong đó 30 công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụng: Củ Chi 37 công trình, Bình Chánh 4 công trình, Cần Giờ 2 công trình). Có 170 công trình đang chuẩn bị đầu tư với tổng mức dự kiến 395.969 triệu đồng.
- Triển khai 108 công trình bờ bao ngăn triều cường kết hợp giao thông nông thôn và chống sạt lở với tổng chiều dài 71.320 m, tổng kinh phí 140,805 tỷ đồng (đã hoàn thành 63 hạng mục dài 43.254 m, kinh phí 88,529 tỷ đồng), bảo vệ 3.014 ha đất sản xuất nông nghiệp và khu dân cư.
Bên cạnh đó, chương I phân tích sâu sắc 4 đặc điểm sản xuất nông nghiệp và luận giải vai trò của từng nhân tố tự nhiên (đất đai, nước, địa hình, khí hậu, sinh vật) cùng các nhân tố kinh tế - xã hội (dân cư, khoa học công nghệ, chính sách, vốn và thị trường) trong sự phân bố không gian nông nghiệp.
CHƯƠNG II: KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Chương II phân tích toàn diện các đặc trưng tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố:
- Vị trí và địa giới: Tọa độ địa lí từ 10°22'13" đến 11°22'17" vĩ độ Bắc và từ 106°01'25" đến 107°01'10" kinh độ Đông. Diện tích tự nhiên 2.095,5 km² (chiếm 0,63% diện tích cả nước), tiếp giáp 6 tỉnh (Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Tây Ninh, Bình Dương) và Biển Đông. Đến tháng 12/2011, thành phố có 24 quận, huyện (19 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành) với 253 phường, 5 thị trấn và 59 xã.
- Địa chất và địa hình: Thành phố phát triển trên hai tướng trầm tích chính:
- Trầm tích Pleistocen (phù sa cổ): Phân bố ở phía Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc (Củ Chi, Hóc Môn, Bắc Bình Chánh, Thủ Đức, Bắc Quận 9), hình thành dạng địa hình lượn sóng, gò cao 20 - 25 m xuống 3 - 4 m, mang nhóm đất xám đặc trưng.
- Trầm tích Holocen (phù sa trẻ): Phân bố ở trung tâm và phía Nam, hình thành đồng bằng thấp trũng với đất phù sa, đất phèn và đất mặn.
- Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, chia làm 3 dạng: vùng cao phía Bắc - Đông Bắc (10 - 25 m, cao nhất tại đồi Long Bình Quận 9 đạt 32 m); vùng trung bình (5 - 10 m); vùng trũng phía Nam - Tây Nam - Đông Nam (0,5 - 1 m).
- Khí hậu: Mang tính chất nhiệt đới gió mùa cận xích đạo; bức xạ dồi dào (~140 Kcal/cm²/năm); số giờ nắng 160 - 270 giờ/tháng; nhiệt độ trung bình 27 - 28°C (tháng cao nhất là tháng 4 đạt 28,8°C, thấp nhất là tháng 12 - 1 đạt 25,7°C; có trên 330 ngày/năm đạt 25 - 28°C). Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 (chiếm 90% lượng mưa năm, đỉnh mưa rơi vào tháng 6 và 9); mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Độ ẩm không khí trung bình 79,5%.
- Thủy văn: Mật độ sông ngòi kênh rạch đạt 3,38 km/km², tổng lưu lượng nước mặt khoảng 36 tỷ m³/năm. Sông Đồng Nai cung cấp 15 tỷ m³ nước ngọt/năm; sông Sài Gòn dài 80 km chảy qua địa phận thành phố; sông Nhà Bè chia thành hai nhánh Soài Rạp (59 km) và Lòng Tàu (56 km) đổ ra biển. Hồ Trị An và hồ Dầu Tiếng giữ vai trò điều tiết thủy lợi quan trọng trong mùa khô. Nước ngầm ở phía Bắc (Củ Chi, Hóc Môn, Quận 12) dồi dào, chất lượng tốt ở tầng 60 - 90 m; vùng phía Nam bị nhiễm phèn, nhiễm mặn.
- Thổ nhưỡng: Đất đai thành phố được phân thành 4 nhóm chính:
| Nhóm đất |
Diện tích (ha) |
Tỷ trọng cơ cấu (%) |
Vị trí phân bố chủ yếu |
| Đất phèn |
57.626 |
27,50 |
Nam Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn, Bắc Cần Giờ |
| Đất xám trên phù sa cổ |
40.443 |
19,33 |
Củ Chi, Hóc Môn, Bắc Bình Chánh, Thủ Đức, Bắc - Đông Bắc Quận 9 |
| Đất phù sa ít nhiễm phèn |
26.403 |
12,60 |
Nam Bình Chánh, Đông Quận 7, Bắc Nhà Bè, một phần Củ Chi, Hóc Môn |
| Đất mặn |
25.565 |
12,20 |
Tập trung tại huyện Cần Giờ |
| Các loại đất khác và sông suối |
Phần còn lại |
28,37 |
Đất đỏ vàng (1,5% ở Thủ Đức, Q.9, Củ Chi), cát biển (3,2% ở Cần Giờ) |
- Kinh tế - xã hội: Dân số năm 2010 đạt 7.446.000 người (mật độ 3.530 người/km²), nội thành tập trung 83,18% dân số (mật độ 12.268 người/km²). Tổng nguồn lao động năm 2010 là 5.890.000 người (70,6% dân số), trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm 58%. Lao động khu vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 1,83%. GDP thành phố năm 2010 đạt 150.943 tỷ đồng (giá so sánh 1994), tăng 1,5 lần so với năm 2006.
CHƯƠNG III: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chương III đi sâu phân tích thực trạng sản xuất nông nghiệp và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố tự nhiên:
- Hiện trạng phát triển nông nghiệp: Tổng diện tích đất nông nghiệp của thành phố đạt gần 104.000 ha (chiếm gần 50% diện tích tự nhiên), bao gồm: đất sản xuất nông nghiệp 56.700 ha, đất lâm nghiệp 36.300 ha, đất nuôi trồng thủy sản 9.400 ha. GDP nông nghiệp năm 2010 đạt 4.700 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt 5%/năm (trồng trọt tăng 6,6%/năm, chăn nuôi tăng 9,4%/năm, dịch vụ nông nghiệp tăng 11,8%/năm, lâm nghiệp giảm 5,3%/năm). Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp tăng từ 63 triệu đồng (2005) lên 155 triệu đồng (2010).
- Cơ cấu trang trại: Năm 2010 có 2.055 cơ sở trang trại; trong đó trang trại chăn nuôi chiếm 1.483 cơ sở (hơn 71%), trang trại nuôi trồng thủy sản 450 cơ sở, trang trại trồng cây hàng năm 84 cơ sở và trang trại trồng cây lâu năm chỉ có 20 cơ sở.
- Hiện trạng ngành trồng trọt và cây lương thực:
- Giá trị sản xuất trồng trọt tăng hơn 1.100 tỷ đồng từ 2005 đến 2010, nhưng tỷ trọng trong cơ cấu nông nghiệp giảm 5,6%. Diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm từ 53.188 ha (2006) xuống 46.987 ha (2008).
- Diện tích gieo trồng cây lương thực giảm mạnh từ 41.400 ha (2005) xuống 25.437 ha (2010) (giảm 39%). Cây có hạt chiếm trên 99% diện tích cây lương thực.
- Cây lúa chiếm trên 95% diện tích cây lương thực nhưng giảm 16.042 ha (giảm 39,6%) trong giai đoạn 2005 - 2010. Trong đó, diện tích lúa mùa giảm 50%, lúa đông xuân giảm 30%, lúa hè thu giảm 11%. Diện tích lúa phân bố tập trung tại: Củ Chi (trên 50%), Bình Chánh (trên 25%), Hóc Môn (trên 7%).
Biến động sản lượng cây lương thực qua các năm được thống kê cụ thể:
| Loại cây lương thực |
Năm 2005 |
Năm 2006 |
Năm 2007 |
Năm 2008 |
Năm 2009 |
Năm 2010 |
| Lúa cả năm (tấn) |
133.649 |
112.076 |
105.882 |
92.828 |
94.089 |
94.475 |
| Ngô (tấn) |
3.292 |
3.730 |
2.131 |
2.460 |
3.081 |
1.666 |
| Cây chất bột lấy củ (tấn) |
2.308 |
- |
- |
- |
- |
1.259 |
- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên:
- Thổ nhưỡng (Ảnh hưởng lớn nhất - Vị trí 1): Đất xám Củ Chi và Hóc Môn thích hợp phát triển rau an toàn, hoa cây kiểng, bắp và cây công nghiệp ngắn ngày; đất phèn Bình Chánh và Nhà Bè hạn chế sinh trưởng cây trồng, đòi hỏi thau chua rửa phèn; đất mặn Cần Giờ chỉ phù hợp phát triển rừng ngập mặn và thủy sản.
- Thủy văn (Ảnh hưởng vị trí 2): Nguồn nước mặt dồi dào từ sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và hồ Dầu Tiếng, Trị An cung cấp nước tưới quyết định năng suất và mùa vụ; sự phân hóa mùa lũ - kiệt cùng hiện tượng xâm nhập mặn trong mùa khô gây khó khăn cho canh tác vùng hạ lưu.
- Địa hình (Ảnh hưởng vị trí 3): Địa hình cao lượn sóng phía Tây Bắc thoát nước tốt, thuận lợi canh tác màu và lúa; vùng trũng thấp phía Nam thường xuyên ngập úng do triều cường.
- Khí hậu (Ảnh hưởng vị trí 4): Nền nhiệt cao, ánh sáng dồi dào quanh năm tạo điều kiện tăng vụ, xen canh gối vụ liên tục; tuy nhiên tính chất phân mùa mưa - khô sâu sắc gây thiếu nước tưới cục bộ vào mùa khô.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với số liệu thực tế:
- Đã lượng hóa thực trạng chuyển dịch kinh tế nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 - 2010 với tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp đạt 5%/năm, giá trị thu hoạch bình quân đạt 155 triệu đồng/ha/năm (năm 2010).
- Hệ thống hóa diện tích và cơ cấu 4 nhóm đất chính của thành phố: đất phèn (57.626 ha - 27,5%), đất xám (40.443 ha - 19,33%), đất phù sa (26.403 ha - 12,6%) và đất mặn (25.565 ha - 12,2%), làm cơ sở khoa học xác lập tính thích nghi của cây trồng.
- Phản ánh chính xác xu thế chuyển dịch trong ngành trồng trọt: diện tích lúa giảm mạnh 16.042 ha (39,6% từ 2005 đến 2010), sản lượng lúa giảm từ 133.649 tấn xuống 94.475 tấn, diện tích canh tác co cụm chủ yếu về phía Tây Bắc gồm Củ Chi (>50%), Bình Chánh (>25%) và Hóc Môn (>7%); đồng thời gia tăng diện tích rau an toàn, hoa kiểng, cỏ thức ăn chăn nuôi và mở rộng trang trại chăn nuôi (1.483 trang trại năm 2010).
Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:
- Quy hoạch bố trí cây trồng phù hợp với đặc thù thổ nhưỡng từng vùng: khai thác vùng đất xám Củ Chi - Hóc Môn cho nông nghiệp công nghệ cao, hoa cây kiểng, rau sạch; cải tạo vùng đất phèn Bình Chánh bằng hệ thống thủy lợi kết hợp nuôi trồng thủy sản; duy trì vùng rừng ngập mặn phòng hộ sinh thái Cần Giờ.
- Đầu tư hoàn thiện hệ thống thủy lợi, đê bao ngăn triều cường kết hợp giao thông nông thôn (tiếp tục phát huy các dự án theo Văn bản số 8566/UBND-CNN) nhằm chống ngập úng và thau chua rửa phèn.
- Đẩy mạnh chuyển đổi nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp đô thị sinh thái, tận dụng lợi thế thị trường tiêu thụ lớn của thành phố.
Về đóng góp khoa học, tác giả tự nêu: Trong bối cảnh các nghiên cứu trước đây tại TP. Hồ Chí Minh thường chỉ khảo sát riêng rẽ từng thành phần tự nhiên đơn lẻ hoặc đánh giá tổng thể kinh tế nông thôn nói chung, khóa luận đã tổng hợp liên ngành các yếu tố tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng) trong mối quan hệ hệ thống với sự phát triển và phân bố thực tế của ngành trồng trọt giai đoạn 2005 - 2010.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự nhìn nhận và xuất phát từ giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Chuỗi số liệu thống kê thu thập giới hạn trong giai đoạn 2005 - 2010, một số chỉ tiêu thống kê phân tán giữa các sở ban ngành nên việc đối chiếu chuỗi thời gian dài gặp khó khăn.
- Đề tài mới chỉ tập trung phân tích sâu ngành trồng trọt ở các huyện ngoại thành, chưa đi sâu đánh giá ngành chăn nuôi do chăn nuôi tại thành phố phát triển chủ yếu theo hình thức công nghiệp trong chuồng trại, ít thể hiện sự chi phối rõ rệt từ điều kiện tự nhiên.
Hướng nghiên cứu tiếp nối:
- Mở rộng cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2010 nhằm đánh giá tác động kéo dài của quá trình đô thị hóa nhanh và suy giảm quỹ đất nông nghiệp.
- Nghiên cứu sâu hơn về tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và hiện tượng xâm nhập mặn đến nguồn nước tưới tiêu và cơ cấu cây trồng tại các vùng trũng thấp ven biển như Nhà Bè, Cần Giờ và Nam Bình Chánh.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Địa lí học (Địa lí tự nhiên, Địa lí kinh tế - xã hội), Quản lý đất đai, Quy hoạch nông thôn và Nông nghiệp đô thị.
- Các cán bộ nghiên cứu, quản lý tại các cơ quan nông nghiệp, tài nguyên môi trường đang tìm kiếm nguồn tài liệu tổng hợp về đặc điểm tự nhiên và thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng ngoại thành TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 - 2010.
Các phần có giá trị tham khảo cao:
- Chương II: Hệ thống tư liệu phân loại 4 nhóm đất, đặc trưng địa chất trầm tích và chế độ thủy văn sông ngòi - nước ngầm TP. Hồ Chí Minh.
- Chương III: Hệ thống bảng số liệu chi tiết về biến động diện tích, sản lượng cây lương thực, phân bố vùng trồng lúa và cơ cấu trang trại phân theo quận, huyện.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận xác định yếu tố tự nhiên nào có ảnh hưởng lớn nhất đến sản xuất nông nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh?
Khóa luận xác định thổ nhưỡng (đất đai) là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất, chi phối trực tiếp đến quy mô, phương hướng sản xuất, cơ cấu và phân bố cây trồng. Đứng thứ hai là nguồn nước (thủy văn), tiếp theo là địa hình (vị trí thứ 3) và khí hậu (vị trí thứ 4).
Tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 - 2010, nhóm đất nào chiếm diện tích lớn nhất và phân bố ở đâu?
Nhóm đất phèn chiếm diện tích lớn nhất với 57.626 ha (chiếm 27,5% tổng diện tích tự nhiên thành phố), phân bố tập trung ở phía Nam huyện Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và phía Bắc huyện Cần Giờ.
Doanh thu bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh biến động như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu?
Doanh thu bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp tăng trưởng liên tục: từ 63 triệu đồng/ha/năm (năm 2005) lên 138,5 triệu đồng/ha/năm (năm 2009, gấp 2,2 lần năm 2005) và đạt 155 triệu đồng/ha/năm vào năm 2010.
Diện tích gieo trồng cây lúa phân bố chủ yếu ở các quận, huyện nào và thay đổi ra sao trong giai đoạn 2005 - 2010?
Diện tích gieo trồng lúa tập trung chủ yếu tại huyện Củ Chi (hơn 50%), Bình Chánh (hơn 25%) và Hóc Môn (hơn 7%). Trong giai đoạn 2005 - 2010, diện tích trồng lúa toàn thành phố giảm nhanh 16.042 ha (giảm 39,6%), trong đó diện tích lúa mùa giảm 50%, lúa đông xuân giảm 30% và lúa hè thu giảm 11%.
Vì sao tác giả chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến ngành trồng trọt mà không đi sâu vào chăn nuôi?
Do ngành trồng trọt chịu ảnh hưởng trực tiếp, mạnh mẽ từ đất đai, nguồn nước, địa hình và thời tiết; trong khi ngành chăn nuôi tại TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn này chủ yếu phát triển theo phương thức công nghiệp khép kín, phụ thuộc vào thức ăn chế biến sẵn nên ít chịu sự chi phối rõ rệt từ các yếu tố tự nhiên.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đổng Thị Dung đã hệ thống hóa và phân tích sâu sắc tác động của các nhân tố tự nhiên (đặc biệt là thổ nhưỡng, thủy văn, địa hình và khí hậu) đến sự phát triển và phân bố không gian ngành nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 - 2010. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù diện tích cây lương thực sụt giảm mạnh do tác động của đô thị hóa, ngành nông nghiệp thành phố đã có bước chuyển dịch hiệu quả sang mô hình nông nghiệp đô thị có giá trị gia tăng cao trên một đơn vị diện tích. Công trình là tài liệu địa lí ứng dụng có giá trị thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho công tác quy hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững tại các huyện ngoại thành.