Nghiên cứu tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Quảng Ngãi

Luận án tiến sĩ phân tích tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ngãi, cung cấp cái nhìn sâu sắc về phát triển địa phương.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh tế Phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

162
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Đóng góp của luận án

0.5. Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.1. Những vấn đề chung về đầu tư công và tăng trưởng kinh tế

1.2. Khái niệm và hình thức đầu tư công. Huy động và sử dụng vốn đầu tư công

1.3. Khái niệm tăng trưởng kinh tế

1.4. Các lý thuyết liên quan về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế

1.4.1. Lý thuyết về tăng trưởng cổ điển

1.4.2. Lý thuyết về tăng trưởng tân cổ điển (mô hình Cobb-Douglas)

1.4.3. Lý thuyết tăng trưởng Keynes (mô hình tăng trưởng của Harrob – Domar)

1.4.4. Lý thuyết tăng trưởng hiện đại của Samuelson

1.4.5. Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế nội sinh

1.5. Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế

1.5.1. Tác động thông qua kênh đầu tư

1.5.2. Tác động thông qua kênh giảm nghèo

1.5.3. Tác động thông qua kênh thúc đẩy đầu tư tư nhân

1.5.4. Tác động thông qua kênh tăng trưởng quy mô và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.6. Khung phân tích cho nghiên cứu

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.3. Đặc điểm điều kiện kinh tế

2.4. Đặc điểm điều kiện xã hội

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Giả thuyết và quy trình nghiên cứu

2.7. Phương pháp thu thập số liệu

2.8. Phương pháp phân tích

2.9. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CÔNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH QUẢNG NGÃI

3.1. Thực trạng đầu tư công tỉnh Quảng Ngãi

3.2. Thực trạng đầu tư tỉnh Quảng Ngãi

3.3. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ngãi thông qua kênh đầu tư

3.4. Mức đóng góp của khu vực công vào tăng trưởng tỉnh Quảng Ngãi

3.5. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ngãi thông qua kênh giảm nghèo

3.6. Một số chương trình sử dụng đầu tư công cho giảm nghèo của tỉnh Quảng Ngãi

3.7. Tác động của đầu tư công đến giảm nghèo tỉnh Quảng Ngãi

3.8. Tình hình giảm nghèo ở tỉnh Quảng Ngãi

3.9. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ngãi thông qua thúc đẩy mức đầu tư tư nhân

3.10. Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân

3.11. Ảnh hưởng của khu vực tư nhân đến tình hình tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ngãi

3.12. Tác động của đầu tư công đến quy mô tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Ngãi

3.13. Nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ngãi

3.14. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: HÀM Ý CHÍNH SÁCH

4.1. Bối cảnh quốc tế, trong nước và dự báo về nhu cầu đầu tư tỉnh Quảng Ngãi

4.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước

4.1.2. Bối cảnh kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi

4.1.3. Dự báo nhu cầu đầu tư phát triển và đầu tư công tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2020 - 2025

4.2. Hàm ý chính sách

4.2.1. Cải thiện chính sách huy động, phân bổ và sử dụng vốn đầu tư công hiệu quả

4.2.2. Hoàn thiện vai trò của đầu tư công thúc đẩy tăng trưởng kinh tế qua kênh đầu tư

4.2.3. Phát huy vai trò của đầu tư công để thúc đẩy giảm nghèo

4.2.4. Nâng cao hiệu quả của đầu tư công trong việc thúc đẩy mức đầu tư tư nhân

4.2.5. Gia tăng vai trò đầu tư công để thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

4.2.6. Những hạn chế của nghiên cứu và hướng khắc phục

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế

Đầu tư công (đầu tư công) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng kinh tế) tại tỉnh Quảng Ngãi. Nghiên cứu chỉ ra rằng, đầu tư công không chỉ tạo ra cơ sở hạ tầng cần thiết mà còn kích thích các hoạt động kinh tế khác. Theo các lý thuyết về tăng trưởng, đầu tư công có thể tác động tích cực đến tăng trưởng GDP (tăng trưởng GDP) thông qua việc cải thiện hạ tầng và tạo ra việc làm. Tuy nhiên, hiệu quả của đầu tư công còn phụ thuộc vào cách thức quản lý và phân bổ nguồn lực. Việc đầu tư không đúng trọng tâm có thể dẫn đến lãng phí và không đạt được mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.

1.1. Các kênh tác động của đầu tư công

Đầu tư công có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế qua nhiều kênh khác nhau. Đầu tiên, kênh đầu tư trực tiếp vào cơ sở hạ tầng giúp cải thiện môi trường kinh doanh và thu hút đầu tư tư nhân (đầu tư tư nhân). Thứ hai, đầu tư công còn có thể giảm nghèo thông qua các chương trình hỗ trợ xã hội và phát triển cộng đồng. Cuối cùng, đầu tư công cũng có thể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế) bằng cách tạo ra các ngành nghề mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Những kênh này đều cho thấy sự cần thiết của việc đầu tư công trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế tại Quảng Ngãi.

II. Thực trạng đầu tư công tại tỉnh Quảng Ngãi

Thực trạng đầu tư công tại tỉnh Quảng Ngãi cho thấy sự gia tăng đáng kể trong những năm qua. Từ năm 2001 đến 2016, tổng vốn đầu tư công đã tăng lên đáng kể, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư của tỉnh. Tuy nhiên, việc phân bổ và sử dụng vốn đầu tư công vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều dự án chưa được thực hiện đúng tiến độ và chất lượng công trình không đảm bảo. Điều này dẫn đến tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản và ảnh hưởng đến hiệu quả của đầu tư công. Cần có các biện pháp cải thiện quản lý và sử dụng vốn đầu tư công để nâng cao hiệu quả tác động đến tăng trưởng kinh tế.

2.1. Đánh giá hiệu quả đầu tư công

Đánh giá hiệu quả đầu tư công tại Quảng Ngãi cho thấy rằng mặc dù có sự gia tăng về quy mô, nhưng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công vẫn chưa đạt yêu cầu. Nhiều dự án không mang lại lợi ích kinh tế như mong đợi, dẫn đến sự lãng phí nguồn lực. Việc thiếu sự đồng bộ trong quy hoạch và thực hiện các dự án cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Cần có các giải pháp cụ thể để cải thiện hiệu quả đầu tư công, bao gồm việc tăng cường giám sát và đánh giá các dự án đầu tư.

III. Hàm ý chính sách cho đầu tư công

Để nâng cao hiệu quả của đầu tư công tại tỉnh Quảng Ngãi, cần có các hàm ý chính sách rõ ràng. Đầu tiên, cần cải thiện chính sách huy động và phân bổ vốn đầu tư công để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững. Thứ hai, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cấp chính quyền trong việc thực hiện các dự án đầu tư công. Cuối cùng, cần chú trọng đến việc đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý đầu tư công để đảm bảo các dự án được thực hiện đúng tiến độ và chất lượng.

3.1. Đề xuất giải pháp cải thiện đầu tư công

Các giải pháp cải thiện đầu tư công bao gồm việc xây dựng các tiêu chí rõ ràng cho việc lựa chọn dự án đầu tư, tăng cường công tác giám sát và đánh giá hiệu quả của các dự án. Đồng thời, cần có các chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân tham gia vào các dự án đầu tư công, từ đó tạo ra sự kết hợp hiệu quả giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững cho tỉnh Quảng Ngãi.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Những vấn đề chung về đầu tư công và tăng trưởng kinh tế 1. Khái niệm và hình thức đầu tư công 1. Khái niệm Từ tổng quan các tài liệu cho thấy đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy TTKT và bản chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính lý thuyết và thực nghiệm.

Nhiều nghiên cứu ngoài nước phân biệt giữa ĐTTN và ĐTC, theo đó ĐTC thường được cho là đầu tư cho kết cấu hạ tầng. Việc phân biệt như vậy rất có ý nghĩa vì đầu tư cho kết cấu hạ tầng có những điểm khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp (Hoàng Dương Việt Anh, Nguyễn Văn Hậu, 2013). Kết cấu hạ tầng là vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp cũng như các hoạt động của các cá nhân. Do vậy, nhiều doanh nghiệp và cá nhân trong một khu vực có hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng đó mà không mất thêm chi phí hoặc ít nhất với chi phí thấp hơn nếu kết cấu hạ tầng đó phải được cung cấp cho người sử dụng thêm đó, nên kết cấu hạ tầng có thể coi như cung cấp những lợi ích ngoại lai cho những người sử dụng.

Ở nhiều quốc gia, một số hoạt động sản xuất là do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện. Tại các nước phát triển, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước lại có xu hướng được giới hạn trong một số ngành và tỷ trọng các hoạt động do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện đã giảm đi đáng kể. Kinh tế học định nghĩa ĐTC là việc đầu tư để tạo năng lực sản xuất và cung ứng hàng hóa công cộng và chi tiêu chính phủ, là các khoản chi của chính phủ để cung ứng hàng hóa công cộng như xây dựng đường xá, trường học, dịch vụ phòng và chữa bệnh, đảm bảo an ninh, quốc phòng… Hiểu theo định nghĩa của đầu tư thì “đầu tư công” là việc sử dụng nguồn vốn nhà nước để đầu tư duy trì và mở rộng một bộ phận tài sản sản xuất của nền kinh tế thông qua các chương trình, dự án nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội không nhằm mục đích kinh doanh. 9 luan an Hiểu theo nghĩa hẹp hơn thì "đầu tư công" bao gồm tất cả các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước tiến hành.

Trong quan niệm này, ĐTC được xét không phải từ góc độ mục đích (có sản xuất hàng hóa công cộng hay không, có mang tính kinh doanh hay là phi lợi nhuận) mà từ góc độ tính sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu tư. Cụ thể ĐTC là đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm: Vốn NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý. Luật Đầu tư công năm 2014 quan niệm “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”. Như vậy, khái niệm ĐTC ở đây sẽ là: Nhà nước sử dụng các nguồn tài chính trong thực hiện hoạt động đầu tư cho các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Phân loại đầu tư công Căn cứ vào lĩnh vực, đầu tư công được phân loại như sau: - Đầu tư chương trình, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực khác. - Đầu tư phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp. - Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích. - Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư.

- Đầu tư lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch. 10 luan an - Chương trình mục tiêu, dự án ĐTC khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Căn cứ vào tính chất, dự án đầu tư công được phân loại như sau: - Dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư: xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án; - Dự án không có cấu phần xây dựng là dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án khác không quy định tại điểm a khoản này. Căn cứ mức độ quan trọng và quy mô, dự án đầu tư công được phân loại thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C… 1.

Đặc điểm của đầu tư công Đầu tư công là loại hình đầu tư được hoạch định trong kế hoạch nhà nước, được đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước, do Nhà nước quản lý. ĐTC tập trung chủ yếu vào việc đáp ứng nhu cầu về hàng hóa công cộng như xây dựng vận hành và bảo dưỡng hạ tầng kinh tế (ví dụ: đường sá, cầu cống, bến cảng.) và hạ tầng xã hội (như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao. Đây là các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không muốn làm hoặc không thể đầu tư được vì lý do hiệu quả trực tiếp thấp hoặc không đủ năng lực để đầu tư. Điểm khác biệt cơ bản giữa ĐTC và ĐTTN là ĐTC quan tâm trước hết tới hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả gián tiếp, hiệu quả ngoại lai - hiệu quả có tác dụng gián tiếp ngoài phạm vi của dự án đầu tư.

Trong khi đó các dự án đầu tư sản xuất - kinh doanh của lĩnh vực tư nhân trước hết quan tâm đến hiệu quả thương mại, hiệu quả trực tiếp trong phạm vi công trình đầu tư và trước hết vì lợi ích của người bỏ vốn đầu tư. Thêm vào đó, trong dự án đầu tư công, chủ đầu tư là các doanh nghiệp nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội… chứ không phải là tư nhân. Về mặt tác nghiệp kế hoạch hóa, nguồn vốn đầu tư công cộng được kế hoạch hóa trực tiếp bởi cơ quan kế hoạch nhà nước các cấp và gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. 11 luan an Xu thế chung của thế giới và trong nước là nhà nước chỉ nên sử dụng đầu tư công vào các lĩnh vực mà thành kinh kinh tế tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm.

Thay vào đó, nhà nước tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Huy động và sử dụng vốn đầu tư công Các lý thuyết TTKT được trình bày dưới đây không chỉ là cơ sở để nghiên cứu tác động của ĐTC đến TTKT mà còn chỉ ra cơ chế nền kinh tế huy động, phân bổ, sử dụng vốn đầu tư. Do đó, mỗi nền kinh tế tồn tại cách thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn đầu tư, trong đó có cả vốn ĐTC để bảo đảm năng lực sản xuất. Huy động vốn đầu tư Các lý thuyết TTKT đều chỉ ra rằng nguồn vốn cho đầu tư được hình thành từ tiết kiệm trong nền kinh tế và vay nợ từ bên ngoài.

Tiết kiệm trong nước hay tiết kiệm quốc dân bằng tiết kiệm cá nhân và tiết kiệm của chính phủ. Tiết kiệm cá nhân bao gồm tiết kiệm của các hộ gia đình và tiết kiệm của doanh nghiệp không phải nhà nước. Tiết kiệm của chính phủ là cơ sở cho ĐTC. Nhưng ĐTC còn được lấy từ khoản chi tiêu mua hàng hóa dịch vụ của chính phủ.

Tiết kiệm là chênh lệch giữa tổng thu nhập và tiêu dùng (Mankiw, 2010). Do vậy tiết kiệm quốc dân phụ thuộc vào tổng thu nhập quốc dân hay GDP. Vì thế tiết kiệm cá nhân cũng phụ thuộc vào thu nhập của họ. Tiết kiệm là nguồn để đầu tư hay tiêu dùng tương lai.

Nếu muốn tăng đầu tư mà không phải vay nợ từ bên ngoài thì phải tăng tiết kiệm. Nhưng trong khuôn khổ giới hạn của GDP hay tổng thu nhập thì sẽ phải giảm tiêu dùng. Điều này sẽ khiến giảm tổng cầu, hạn chế TTKT và do đó hạn chế tích lũy sau này. Do vậy trong lý thuyết kinh tế đã khẳng định cần duy trì một tỷ lệ tiết kiệm trong nền kinh tế để làm sao tiêu dùng cao nhất.

Như vậy, trong nền kinh tế việc huy động nguồn đầu tư phải căn cứ vào khả năng của nền kinh tế, tức là quy mô GDP. Nhu cầu đầu tư cao trong ngắn hạn có thể huy động từ bên ngoài nhưng về cơ bản vẫn phải bảo đảm nguyên tắc trong dài hạn. Khi dòng vốn từ bên ngoài cao trong dài hạn sẽ có thể là những nguyên nhân gây bất ổn cho kinh tế. 12 luan an Nguồn ĐTC về cơ bản vẫn tuân theo những nguyên tắc trên.

Nguồn ĐTC là phần tiết kiệm công và phần chi tiêu mua hàng đầu tư của chính phủ. Trong điều kiện bội chi ngân sách nguồn vay từ trong và ngoài nước sẽ bù đắp thâm hụt. Tuy nhiên, trong dài hạn chính phủ vẫn phải tuân thủ những quy tắc thị trường vốn vì sẽ dẫn đến các mất cân đối tiềm tàng. Phân bổ vốn đầu tư Phân bổ vốn đầu tư trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường và chịu ảnh hưởng của thay đổi cơ cấu tiêu dùng của thị trường, diễn biến thị trường thế giới và khả năng mở rộng sản xuất… Phân bổ vốn ĐTC về cơ bản vẫn tuân theo cơ chế thị trường nhưng còn theo định hướng chiến lược phát triển của chính phủ.

Định hướng tập trung cho phát triển ngành, lĩnh vực nào sẽ được chính phủ tập trung phân bổ nguồn ĐTC và kết hợp với các nguồn khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Quảng Ngãi" của tác giả Nguyễn Viết Vy, dưới sự hướng dẫn của GS. Võ Xuân Tiến và PGS. Bùi Quang Bình, thuộc trường Đại học Đà Nẵng, tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa đầu tư công và sự phát triển kinh tế tại tỉnh Quảng Ngãi. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức đầu tư công có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn chỉ ra những lợi ích cụ thể mà nó mang lại cho địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về chính sách đầu tư công và cách thức áp dụng chúng để tối ưu hóa sự phát triển kinh tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Luận án tiến sĩ về đầu tư công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nhãn ở tỉnh Hưng Yên, nơi cũng nghiên cứu về tác động của đầu tư công đến phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, bài viết Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình sẽ cung cấp thêm thông tin về quản lý dự án đầu tư, một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các dự án đầu tư công. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ về đầu tư công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nhãn ở tỉnh Hưng Yên cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức đầu tư công có thể được áp dụng để phát triển các chuỗi giá trị sản phẩm, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.