Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn cấp tỉnh - Chương 2: Thực trạng quản lý huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. - Chương 3: Một số giải pháp tăng cường quản lý huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thời gian tới. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HUY ĐỘNG VỐN CHO XÂY DỤNG NÔNG THÔN MỚI 1. Một số khái niệm và lý luận căn bản 1.
Các khái niệm liên quan đến xây dựng nông thôn mới 1. Khái niệm về nông thôn Có nhiều khái niệmkhác nhau về nông thôn bởi từ tiêu chí để đánh giá, định nghĩa khác nhau như: trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng; mật độ dân cư; sự tham gia của lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; cội nguồn của văn hóa làng xã… Có quan điểm cho rằng nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã. Hay khái niệm “Nông thôn là v ng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào hoạt động kinh tế văn hoá - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” Mai Thanh Cúc và cs, 2005.
Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã". Nông thôn trong triển khai xây dựng nông thôn mới trên địa bản cả nước từ năm 2011- nay được xác định: Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân (UBND) xã (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2013). Khái niệm về nông thôn mới Nông thôn mới là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của nông thôn Việt Nam Vũ Trọng Khải và cs, 2003). Nông thôn mới trước hết phải là nông thôn, chứ không phải thị trấn, thị tứ.
Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn là vùng nông 10 dân quần tụ trong đơn vị là xã và chủ yếu làm nông nghiệp, vừa có thuộc tính khác với nông thôn truyền thống, đó là: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất, tinh thần người nông dân ngày càng được nâng cao; giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn, phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ (Hồ Xuân Hùng, 2010). Nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ lại nét đặc trưng, tính cách Việt Nam trong đời sống tinh thần. Theo đó một số tiêu chí của mô hình nông thôn mới là: Một là, đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã. Hai là đáp ứng yêu cầu thị trường hóa, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Ba là có khả năng khai thác và nuôi dưỡng hợp lý các nguồn lực, đạt tăng trưởng kinh tế cao và bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du lịch được khai thác. Bốn là, dân chủ nông thôn được mở rộng và đi vào thực chất. Năm là, nông dân, nông thôn có văn hóa được phát triển, dân trí được nâng lên (Hồ Văn Thông, 2005. Như vậy, nông thôn mới được hiểu là nông thôn có hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, làng xã văn minh sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất tinh thần người dân ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
Khái niệm về xây dựng nông thôn mới Nhìn từ góc độ hình thái chế độ kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới phản ánh trạng thái xã hội nông thôn tại một thời điểm nhất định với phát triển kinh tế là cơ sở, với tiến bộ xã hội toàn diện là tiêu chí, dưới điều kiện chế độ xã hội chủ nghĩa Nguyễn Danh Sơn, 2010. Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, xây dựng nông thôn mơi là cách gọi chung cho quá trình xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa nông thôn, dưới bối cảnh “thành thị và nông thôn cùng phát triển” trong giai đoạn mới “công nghiêp bổ trợ nông nghiệp, thành thị dẫn dắt nông thôn” Đặng Kim Sơn, 2008. 11 Xét dưới góc độ quản lý, xây dựng nông thôn mới là chương trình MTQ được triển khai trên địa bàn xã trong phạm vi cả nước, nhằm phát triển nông thôn theo hướng hiện đại Đặng Kim Sơn, 2008. Xây dựng nông thôn mới là xây dựng kêt cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xây dựng giai cấp công nhân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - tri thức vững mạnh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn các v ng còn khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới (Ban Chấp hành Trung ương, 2008.
Như vậy, xây dựng nông thôn mới là quá trình xây dựng tổng thể về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, an ninh trật tự nông thôn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn, phát triển hài hòa, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị với nông thôn, quá trình xây dựng với vai trò chủ thể là người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác. Khái niệm về vốn và quản lý huy động vốn 1. Khái niệm về vốn Vốn được hiểu là các của cải vật chất do con người tạo ra và tích lũy lại và thường tồn tại dưới dạng vất thể hoặc vốn tài chính. Khi kinh tế học còn trong giai đoạn sơ khai, các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng vốn là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Đến khi kinh tế học phát triển hơn, các nhà tài chính cho rằng vốn là tổng số tiền do những người có cổ phần trong công ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chia cho các chứng khoán của công ty, họ chú ý tới lợi ích sau khi đầu tư tài chính. Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong cuốn “Kinh tế học”(NXB Thống Kê, 2007): Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo. Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn 12 tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác.
Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng. đất đai không được coi là vốn. Theo Mak thì vốn là phạm tr cơ bản, tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất. Tuy nhiên theo nhận định của các chuyên gia, do hạn chế của trình độ phát triển lúc bấy giờ, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất tạo ra giá trị thặng dư.
Tuy nhiên một số nhà kinh tế học khác cho rằng vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ không chỉ như tài sản tài chính mà còn cả các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp đã tích luỹ được, trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp, đơn vị. Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng, 2009) vốn được định nghĩa là danh từ với ý nghĩa: tiền bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất kinh doanh nhằm sinh lợi hoặc là tổng thể nói chung những gì sẵn có hay tích lũy được, dung trong một lĩnh vực hoạt động nào đó. Khái niệm về quản lý huy động vốn Có nhiều định nghĩa về quản lý huy động vốn, tuy nhiên có thể hiểu một cách đơn giản quản lý huy động vốn gồm hai nội dung là quản lý vốn và huy động vốn.Tuy là hai nội dung xong nó có tác động biện chứng bởi đó là là một chu trình mà chủ thể quản lý huy động tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển phù hợp với các quy luật khác quan và đạt được các mục tiêu đã định trong việc sử dụng vốn. Từ khái niệm có thể hiểu quản lý vốn là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tổ chức, điều khiển) tới đối tượng quản lý là vốn nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Các nguyên tắc và mục tiêu quản lý huy động vốn 1. Mục tiêu quản lý huy động vốn a. Hoàn thiện cơ sở hạ tầng theo quy hoạch và từng bước hiện đại Cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của bất kì địa phương, quốc gia nào bởi nó vừa tạo động lực cho sự phát triển đồng bộ, hiện đại đồng thời từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh. Để cơ sở hạ tầng được đầu tư theo hướng ngày càng hiện đại thì vốn là yếu tố đầu tiên quyết định đến xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện.