MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Đầu tư công là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng và quyết định đối với tăng trưởng kinh tế. Đầu tư công được tập trung chủ yếu vào xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo…Vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước là nguồn lực quan trọng thúc đầy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi nguồn vốn ngân sách nhà nước càng hạn hẹp thì việc nâng cao hiệu quả đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước càng trở nên quan trọng.
Hòa Bình là tỉnh miền núi vùng Tây Bắc, điểm xuất phát thấp, 72% dân số là dân tộc thiểu số; trình độ dân trí không cao, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, địa hình đồi núi hiểm trở, kinh tế khó khăn. Vì vậy, nguồn lực tài chính dành cho đầu tư công là rất ít. Điều này dẫn đến kết cấu hạ tầng của tỉnh còn thiếu, đòi hỏi phải có nhiều hơn nữa các dự án đầu tư công để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, giúp nâng cao đời sống người dân, từ đó thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh. Hơn nữa, từ năm 2006, hầu hết dự án đầu tư công đã phân cấp về địa phương quản lý, nên hiệu quả đầu tư công mang lại phụ thuộc rất lớn vào năng lực và quyết định đầu tư của địa phương.
Tuy nhiên, với nguồn lực Nhà nước có hạn, hiệu quả đầu tư công chưa cao, nên rất cần có những giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư công ở tỉnh Hòa Bình, giúp tỉnh phát triển kinh tế-xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đầu tư công, sự hạn hẹp của nguồn vốn ngân sách nhà nước, cũng như nhìn nhận thực tiễn khách quan 3 tại tỉnh Hòa Bình, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Hòa Bình”. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Mục tiêu nghiên cứu của luân án: Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đề xuất một số giải pháp và điều kiện thực hiện các giải pháp đó nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Hòa Bình. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: - Nghiên cứu kinh nghiệm trong và ngoài nước, rút ra một số bài học cho tỉnh Hòa Bình - Hệ thống hóa lý luận về đầu tư công, hiệu quả đầu tư công từ vốn NSNN - Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Hòa Bình.
- Xác định nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư công, tìm ra nguyên nhân làm giảm hiệu quả đầu tư công từ vốn NSNN để đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư công từ vốn NSNN tại tỉnh Hòa Bình. - Trên cơ sở định hướng phát triển của tỉnh Hòa Bình, kết hợp với những đánh giá thực trạng về hiệu quả đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Hòa Bình, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Hòa Bình đến. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài luận án Đối tượng nghiên cứu của luận án Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả đầu tư công dưới góc độ tác động của đầu tư công từ vốn NSNN đến kinh tế tại tỉnh Hòa Bình. 4 Phạm vi nghiên cứu Pham vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, phân tích tình hình đầu tư công, đánh giá hiệu quả đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Hòa Bình về mặt kinh tế, cũng như những nhân tố tác động đến hiệu quả đầu tư công tại tỉnh Hòa Bình.
Luận án chỉ nghiên cứu các dự án đầu tư công từ NSNN do Tỉnh quản lý. Pham vi thời gian: Luận án chọn phạm vi thời gian từ năm 2013 đến năm 2017. Pham vi về lãnh thổ: tỉnh Hòa Bình, Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu của luận án gồm: - Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê: Được sử dụng để đánh giá các nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó rút ra những vấn đề lý luận về đầu tư công và hiệu quả đầu tư công.
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để nhận xét, đánh giá mối quan hệ tương quan giữa mức độ đầu tư công và kết quả đạt được (tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động …). - Phương pháp phân tích định lượng: Sử dụng mô hình kinh tế lượng để xem xét đánh giá hiệu quả đầu tư công thông qua ước lượng cụ thể mức độ tác động của đầu tư công đến sự phát triển kinh tế. Cụ thể, luận án sử dụng mô hình vector hiệu chỉnh sai số VECM (vector error correction model) qua phần mềm EVIEWS. VECM được sử dụng trong trường hợp chuỗi dữ liệu là không dừng và có ít nhất một quan hệ đồng tích hợp (cointegration) trong mô hình.
Mô hình VECM là một dạng của mô hình Var tổng quát, được sử dụng trong trường hợp chuỗi dữ liệu là không dừng và chứa đựng mối quan hệ đồng kết hợp. Các bước tiến hành chạy mô hình: 5 Bước 1: Lấy logarit của chuỗi dữ liệu để chuỗi ổn định hơn Bước 2: Kiểm định tính dừng đối với chuỗi dữ liệu, lựa chọn khoảng trễ thích hợp Bước 3: Kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger (sau khi nhận được chuỗi dừng) để xem xét mối quan hệ giữa các biến trong mô hình Bước 4: xét tính đồng liên kết giữa các biến trong mô hình. Ta kiểm định dựa trên các biến chưa lấy sai phân. Bước 5: Sau khi tiến hành các bước kiểm định liên quan, nếu các chuỗi là không dừng và có mối quan hệ đồng liên kết, ta sử dụng mô hình VECM để ước lượng.
Với phương pháp này, các biến số sẽ được kiểm định tính dừng thông qua 2 kiểm định nghiệm đơn vị ADF và PP (Phillips-Perron). Sau đó, kiểm định đồng tích hợp (cointegration) sẽ được thực hiện thông qua thủ tục Johansen. Nếu các biến số tích hợp bậc 1 (I(1)) và có quan hệ đồng tích hợp, mô hình VECM sẽ được ước lượng và giả thuyết về đầu tư công và đầu tư tư nhân sẽ được kiểm định thông qua phân tích các hàm phản ứng (impulse response functions) và ước lượng các hệ số co giãn của các biến số theo biến đầu tư công. Một số khái niệm liên quan tới mô hình VECM như hồi quy giả mạo, đồng liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM.
Hồi quy giả mạo: Khi hồi quy với các chuỗi thời gian, kết quả hồi quy có thể là giả mạo vì các chuỗi này có cùng xu thế. Điều này thường xảy ra trong kinh tế. Ước lượng của các hệ số hồi quy không phải chỉ chịu ảnh hưởng của biến độc lập lên biến phụ thuộc mà còn bao hàm xu thế. 6 Đồng liên kết: Như trên ta đã đề cập tới, việc hồi quy các chuỗi thời gian không dừng thường dẫn đến kết quả hồi quy giả mạo.
Engle và Granger (1987) cho rằng nếu kết hợp tuyến tính của các chuỗi thời gian không dừng có thể là một chuỗi dừng và các chuỗi thời gian không dừng đó được cho là đồng liên kết. Kết hợp tuyến tính dừng được gọi là phương trình đồng liên kết và được giải thích như mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến. Nghĩa là, nếu phần dư trong mô hình hồi quy giữa các chuỗi thời gian không dừng là một chuỗi dừng, thì kết quả hồi quy là thực và thể hiện mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến trong mô hình. Nếu như mô hình là đồng liên kết thì sẽ không xảy ra trường hợp hồi quy giả mạo, khi đó các kiểm định dựa trên tiêu chuẩn t và F vẫn có ý nghĩa.
Có nhiều phương pháp kiểm định mối quan hệ đồng liên kết: kiểm định Engle- Granger, kiểm định CRDW…và theo phương pháp Var của Johansen. Mối quan hệ nhân quả Granger: Để kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger giữa hai chuỗi thời gian X và Y, Để kiểm định trên Eview, ta xây dựng hai phương trình sau: Yt = α0 + α1Yt-1 + … + αlYt-l + β1Xt-1 + … + βlXt-l + εt (1) Xt = α0 + α1Xt-1 + … + αlXt-l + β1Yt-1 + … + βlYt-l + εt (2) Để xem các biến trễ của X có giải thích cho Y (X tác động nhân quả Granger lên Y) và các biến trễ của Y có giải thích cho X (Y tác động nhân quả Granger lên X) hay không ta kiểm định giả thiết sau đây cho mỗi phương trình: H0: β1 = β2 = … = βl = 0 (3) Để kiểm định giả thiết đồng thời này, ta sử dụng thống kê F của kiểm định Wald. Nếu giá trị thống kê F tính toán lớn hơn giá trị thống kê F phê phán ở một mức ý nghĩa xác định ta bác bỏ giả thiết H0 và ngược lại. Có 4 khả năng như sau: 7 - Nhân quả Granger một chiều từ X sang Y nếu các biến trễ của X có tác động lên Y, nhưng các biến trễ của Y không có tác động lên X.
- Nhân quả Granger một chiều từ Y sang X nếu các biến trễ của Y có tác động lên X, nhưng các biến trễ của X không có tác động lên Y. - Nhân quả Granger hai chiều giữa X và Y nếu các biến trễ của X có tác động lên Y và các biến trễ của Y có tác động lên X. - Không có quan hệ nhân quả Granger giữa X và Y nếu các biến trễ của X không có tác động lên Y và các biến trễ của Y không có tác động lên X. Phương pháp này có ưu điểm hơn so với hầu hết các nghiên cứu trước đây về cùng chủ đề (ước lượng các phương trình OLS tĩnh).
Nếu như việc ước lượng các phương trình tĩnh đơn lẻ thường phải có giả định mạnh về dạng mô hình và quan hệ nhân quả giữa các biến, thì mô hình VECM bao chứa mọi mối quan hệ tương hỗ động theo thời gian giữa các biến, theo đó, phân tích được tác động trong ngắn hạn, cũng như quá trình điều chỉnh đến quan hệ ổn định trong dài hạn. Ngoài ra, phương pháp phân tích dãy số theo thời gian cũng tránh được một số yếu điểm của phương pháp OLS đơn thuần như hồi quy giả (spurious regression) hoặc tự tương quan. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 5. Tình hình nghiên cứu trong nước 5.