CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Hiện này trong và ngoài nước có rất nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về CLTT BCTC và các nhân tố ảnh hưởng tới CLTT BCTC. Mục tiêu hướng đến của luận văn là xác định các đặc điểm của Ban kiểm soát tác động CLTT BCTC tại các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Một số nghiên cứu tiêu biểu mà tác giả sử dụng làm tài liệu tham khảo và cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu của mình được trình bày ở nội dung. Các nghiên cứu trên thế giới Trong nghiên cứu của Hongjiang Xu và các cộng sự (2003), “Key issues of accounting information quality management: Australian case.
Industrial Management + Data Systems”. Mục tiêu mà các nhà nghiên cứu này hướng đến là tìm hiểu các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin kế toán công bố trên BCTC trong các doanh nghiệp tại Australia. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study), chọn ra 4 tổ chức để tiến hành phỏng vấn. Dữ liệu thu thập sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc với các bên liên quan chính của hệ thống kế toán.
Trong nghiên cứu này các tác giả đã xây dựng mô hình với 4 biến độc lập: (1) Con người, (2) Hệ thống, (3) Tổ chức, (4) Nhân tố bên ngoài và 1 biến phụ thuộc là CLTT KT. CLTT KT được các tác giả đo lường dựa trên bốn thuộc tính CLTT của BCTC: “chính xác, kịp thời, đầy đủ và nhất quán”. Từ kết quả nghiên cứu các tác giả chỉ ra rằng con người, hệ thống và tổ chức có tác động đến chất lượng thông tin BCTC, các nhân tố bên ngoài không ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC. Đối tượng của nghiên cứu này là các doanh nghiệp nói chung, không đi sâu về CLTT BCTC của các CTNY.
Bên cạnh đó, thang đo về CLTT KT nhóm tác giả xác định dựa trên thuộc tính CLTT BCTC mà không đo lường bằng chất lượng lợi nhuận. Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Biao Xie a, Wallace N. Davidson III, Peter J. DaDalt (2003) “Earnings management and corporate governance: the role of the board and the audit committee”.
Các tác giả nghiên cứu về vai trò của HĐQT và Ủy ban kiểm toán đối với hành vi QTLN. Với dữ liệu mẫu nghiên cứu là 282 công ty của Mỹ trong giai đoạn từ 1992 đến 1994, mô hình nghiên cứu của Jones (1991) về phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hiện hành vi QTLN được các kế thừa sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy những công ty có số lượng thành viên trong HĐQT càng độc lập thì thực hiện hành vi QTLN càng ít. Tần suất cuộc họp của HĐQT càng cao thì hành vi QTLN càng ít, bởi việc cuộc họp được tổ chức thường xuyên HĐQT càng có nhiều thời gian thảo luận đến nhiều vấn đề bao gồm giám sát hành vi QTLN.
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả này cho thấy rằng, tần suất cuộc họp càng lớn thì hành vi QTLN càng giảm, công ty có HĐQT có nền tảng chuyên sâu về tài chính kế toán thì khó có thể xẩy ra hành vi QTLN, khi Ủy ban kiểm toán có ít nhất một thành viên có chuyên môn về tài chính sẽ làm mức độ QTLN của người quản lý giảm. Một nghiên cứu về CLTT BCTC là “Audit committee, board characteristics and quality of financial reporting: An empirical research on Chinese securities market” của Qinghua và các cộng sự (2007). Các tác giả chỉ ra rằng ủy ban kiểm toán, đặc điểm của ban giám đốc và chất lượng BCTC của các CTNY trên thị trường chứng khoán Trung Quốc có mối quan hệ với nhau. Dữ liệu nghiên cứu có 1192 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Thâm Quyến và Thượng Hải năm 2002.
Nhóm tác giả sử dụng mô hình quản trị lợi nhuận của Jones đã điều chỉnh để đo lường chất lượng lợi nhuận; phương pháp phân tích thống kê mô tả và hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích các nhân tố. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tính độc lập của ban giám đốc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. Tỷ lệ ban giám đốc độc lập cao hơn 1/3 thì chất lượng BCTC tốt hơn. Phát hiện thứ hai trong nghiên cứu là đặc điểm chuyên môn của HĐQT là không thể thiếu đối với hiệu quả giám sát của HĐQT và chất lượng BCTC.
Ngoài ra nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa chất lượng BCTC với nhóm nhân tố hành vi của ban giám đốc (như tần suất cuộc họp, tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu) không gây bất kỳ ảnh hưởng đáng kể nào đến chất lượng BCTC. Nghiên cứu này nhóm tác giả đưa ra ba vấn đề còn hạn chế. Một là có sự ảnh hưởng về nền tảng thể chế đối với các đặc điểm của ban giám đốc tại Trung Quốc (như là hướng dẫn yêu cầu ít nhất 1/3 ban giám đốc sẽ là các giám đốc độc lập vào ngày 30/06/2003), điều này có thể ảnh hưởng nhất định đến độ tin cậy của các kết luận. Hai là mặc dù tác giả đã đưa vào một số biến kiểm soát (như quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, lỗ năm trước,…) vào mô hình hồi quy để giảm độ lệch phát sinh từ tính toán trong quản trị lợi nhuận, nhưng nghiên cứu không thể xem xét tất cả các yếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tố liên quan còn lại.
Do đó độ lệch trong các nhân tố về chất lượng lợi nhuận khi đo lường là không thể tránh khỏi trong nghiên cứu. Mặc dù nhóm tác giả thấy được mối tương quan nhất định giữa đặc điểm của ban giám đốc và chất lượng BCTC nhưng không thể giải thích các đặc điểm ban giám đốc ảnh hưởng và cải thiện chất lượng BCTC như thế nào? Nghiên cứu của Ahmad Al-Hiyari và các cộng sự (2013), “Factors that Affect Accounting Information System Implementation and Accounting Information Quality: A Survey in University Utara Malaysia”. Mục tiêu nghiên cứu của các tác giả hướng đến là xác định các yếu tố tác động đến CLTT KT tại Malaysia dựa trên sự kế thừa từ các nghiên cứu trước về CLTT trong lĩnh vực kế toán. Mô hình nghiên cứu được các tác giả xây dựng gồm 3 biến độc lập: (1) Nguồn nhân lực, (2) Cam kết từ phía các nhà quản lý, (3) Vận hành hệ thống thông tin KT và CL dữ liệu.
Trong mô hình biến phụ thuộc là CLTT KT được nhóm tác giả đo lường dựa trên 4 thuộc tính về CLTT BCTC, gồm: “chính xác, kịp thời, đầy đủ và nhất quán”. Và một biến trung gian là CLHTTT KT. Nghiên cứu của các tác giả được thực hiện bằng phương pháp định lượng, dữ liệu được thu thập từ việc khảo sát các đối tượng là cựu sinh viên của trường đại học Utara Malaysia đang công tác tại các công ty. Qua phân tích hồi quy, các tác giả cho thấy có mối quan hệ có ý nghĩa giữa nhân tố nguồn nhân lực, chất lượng hệ thống thông tin KT với CLTT KT.
Kết quả nghiên cứu chỉ cho thấy mối quan hệ giữa nhân tố nguồn lực con người trong các doanh nghiệp tại Malaysia có tác động đến CLTT KT. Nghiên cứu không đi sâu phân tích đặc điểm cá nhân của bộ phận nào trong doanh nghiệp có tác động chất lượng thông tin kế toán tại các CTNY nên không dùng kết quả này để áp dụng cho đề tài này được. Nghiên cứu của Ahsan Habib & Mahmud Hossain (2013), “CEO/CFO characteristics and financial reporting quality: A review”. Nghiên cứu này xem xét các lý thuyết về sự liên kết giữa các khía cạnh khác nhau của đặc điểm CEO/CFO và các đặc tính thông tin kế toán.
Mục đích đánh giá tổ chức xung quanh 3 vấn đề là sự liên kết giữa chất lượng báo cáo tài chính và CEO/CFO, tác dụng của đặc tính quá tự tin quá mức trong quản lý đối với kết quả BCTC, ảnh hưởng của giới tính CEO/CFO LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đối với kết quả BCTC. Nghiên cứu tiến hành xem xét lại các nghiên cứu trước với các mối quan hệ, bao gồm: Giới tính và sự thay đổi trong chất lượng BCTC, chất lượng BCTC và thu nhập của CEO/CFO, đặc điểm quản lý và tác động của chúng đến chất lượng BCTC như là tính cách quá tự tin của CEO/CFO, năng lực và danh tiếng của quản lý, quyền lực của CEO trong quá trình lựa chọn Hồi đồng quản trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa dạng về giới tính giúp tăng hiệu quả quản lý. Trong các công ty Mỹ, CEO nữ đã tăng lên, các nước châu Âu bổ nhiệm các giám đốc nữ là một yêu cầu pháp lý.
Vấn đề thu nhập của CEO/CFO có tác động đến chất lượng BCTC. Ngoài ra kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tính cách quá tự tin của CEO/CFO sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán, có cơ hội cho việc che dấu hậu quả tiêu cực. Sự tham gia của CEO trong quá trình lựa chọn Hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến thông tin kế toán. Ban giám đốc độc lập được coi là một yếu tố quan trọng trong khuôn khổ quản trị doanh nghiệp.
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm tác giả chỉ đề cập đến ảnh hưởng của CEO/CFO tới chất lượng của BCTC, mà không đề cập đến sự ảnh hưởng của Ban kiểm soát đến chất lượng BCTC. Nghiên cứu của Guanggui Ran và các cộng sự (2014), “Supervisory board characteristics and accounting information quality: Evidence from China”. Mục tiêu nghiên cứu của nhóm tác giả này có hai mục tiêu. Đầu tiên nghiên cứu kiểm tra hiệu quả của Ban kiểm soát ở Trung Quốc trong mối quan hệ với chất lượng thông tin kế toán.
Cụ thể là nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm của các KSV với CLTTKT. Tác giả tiến hành phân tích toàn diện đặc điểm của giám sát viên trong các lý thuyết để phát hiện ra các tranh luận về các ban kiểm soát ở Trung Quốc. Thứ hai, tác giả xác định các đặc điểm cơ bản về CLTT KT trong mối quan hệ với Ban kiểm soát. Nghiên cứu được nhóm tác giả sử dụng phương pháp định lượng.
Dữ liệu được thu thập từ các công ty giao dịch trên TTCK Trung Quốc với 2379 công ty và 1769 doanh nghiệp. Bài nghiên cứu đưa ra hai mô hình. Mô hình thức nhất nhóm tác giả dựa trên quan điểm báo cáo tài chính chủ yếu là cho các cổ đông. Độ tin cậy của thông tin kế toán cấu thành tiền đề tạo điều kiện cho các quyết định đầu tư của cổ đông trong công ty.
Nếu thông tin kế toán của công ty có chất lượng cao, tức là thông tin thu nhập đáng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.