Chương 1: Cơ sở lý luận về đa dạng hóa xuất khẩu và tác động của đa dạng hóa xuất khẩu đến nghèo đói. Chương này trình bày khái niệm đa dạng hóa xuất 5 khẩu, nghèo đói và các cách thức đo lường những khái niệm trên. Sau đó, phần cuối của chương sẽ giải thích tác động của đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu tới khả năng giảm nghèo. Chương 2: Thực trạng đa dạng hóa xuất khẩu và nghèo đói các nước đang phát triển Mỹ Latinh giai đoạn 2000 – 2019.
Giới thiệu tổng quan về thương mại quốc tế khu vực Mỹ Latinh, đồng thời nêu thực trạng đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu các nước đang phát triển thuộc khu vực Mỹ Latinh và thực trạng nghèo đói ở các nước này giai đoạn 2000-2019. Chương 3: Phân tích định lượng tác động của đa dạng hóa xuất khẩu đến giảm nghèo. Dựa trên những tranh luận xung quanh việc đa dạng hóa xuất khẩu có tác động như thế nào đến nghèo đói, khóa luật đặt ra hai giả thuyết nghiên cứu cần kiểm định. Sau đó, cách thức cụ thể để kiểm định các giả thuyết này được làm rõ với việc chỉ định mô hình kinh tế lượng, lựa chọn phương pháp ước lượng, chọn mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu cần thiết.
Các kết quả ước lượng sau đó được trình bày, bàn luận, suy diễn một cách khách quan, hợp lý nhằm xây dựng hiểu biết về tác động của đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu đến giảm nghèo. Chương 4: Kết quả, hàm ý chính sách và hạn chế của nghiên cứu. Chương này tóm tắt những kết quả tìm được trong quá trình nghiên cứu. Đồng thời chương này gợi mở những hàm ý chính sách và những hạn chế của nghiên cứu nhằm gợi ý hướng nghiên cứu sâu hơn cho những nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐA DẠNG HÓA XUẤT KHẨU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA XUẤT KHẨU TỚI NGHÈO ĐÓI 1. Đa dạng hóa xuất khẩu 1. Khái niệm Đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu là quá trình mà trong đó cấu trúc hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia thay đổi, nhằm mục đích gia tăng số lượng các loại hàng hóa xuất khẩu và cân bằng hơn trong phân phối các mặt hàng. Một số nhà nghiên cứu như Dutt & cộng sự (2008) nhấn mạnh rằng đa dạng hóa xuất khẩu cũng đồng nghĩa với việc mở rộng khả năng xuất khẩu của một quốc gia lên các sản phẩm mới.
Không chỉ giới hạn ở việc mở rộng các sản phẩm xuất khẩu mới, Berthelemy & Chauvin (2000) cho rằng đa dạng hóa sản phẩm sản xuất còn liên quan đến sự phân bổ đều hơn các hoạt động sản xuất và xuất khẩu trên nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau. Sự phân bổ này thúc đẩy cả sự cân bằng trong phát triển kinh tế và giảm thiểu sự phụ thuộc vào một số ít ngành nghề hoặc sản phẩm, từ đó giảm thiểu rủi ro và nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế. Định nghĩa đơn giản hơn về vấn đề này, được Saviotti & Frenken (2008) đưa ra vào năm 2008 cho rằng: đa dạng hóa xuất khẩu chỉ là sự thay đổi trong cấu trúc xuất khẩu của một quốc gia. Nhìn chung, đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu trước hết là một quá trình diễn ra theo thời gian.
Bên cạnh đó, nó cũng đại diện cho sự thay đổi trong cấu trúc sản phẩm xuất khẩu của một quốc gia hướng tới việc làm cho cấu trúc này trở nên đa dạng hơn. Vì vậy, có thể định nghĩa rằng, đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu là quá trình trong đó các quốc gia không chỉ thay đổi mà còn cải thiện cấu trúc sản phẩm xuất khẩu hiện tại của họ, nhằm tạo ra một cấu trúc đa dạng hơn, bền vững hơn cho tương lai. Việc này sẽ không chỉ giúp ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn giảm bớt sự phụ thuộc vào một số ít nguồn lực hoặc sản phẩm, từ đó giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Cấu trúc xuất khẩu đa dạng hơn cũng giúp các quốc gia thích ứng tốt hơn với biến động của thị trường toàn cầu và khai thác hiệu quả hơn các lợi thế so sánh mới xuất hiện.
Phân loại đa dạng hóa xuất khẩu Đa dạng hóa xuất khẩu được phân thành hai loại: Đa dạng hóa theo biên mở rộng (extensive margins) và Đa dạng hóa theo biên chiều sâu (intensive margins) Về đa dạng hóa theo biên mở rộng (extensive margins), trong các nghiên cứu của Cadot & cộng sự (2011) và Besedes & Prusa (2011) đã chỉ ra rằng: Đa dạng hóa xuất khẩu theo biên mở rộng liên quan đến việc mở rộng số lượng sản phẩm mới hoặc thị trường mới mà một quốc gia xuất khẩu tới. Điều nay bao gồm việc: Xuất khẩu tới thị trường mới – gia nhập thị thị trường mới, tăng độ phủ của sản phẩm và dịch vụ của mình trên phạm vi toàn cầu và Xuất khẩu sản phẩm mới – giúp tăng trưởng doanh thu và củng cố vị thế cạnh tranh của quốc gia. Ngược lại, theo Brenton & cộng sự (2009) và Hinlo & Arranguez (2017), đa dạng hóa theo biên chiều sâu là việc đa dạng hóa xuất khẩu trong trường hợp không mở rộng thêm việc xuất khẩu tới các thị trường mới hay không đầu tư vào việc xuất khẩu các sản phẩm mới. Trong trường hợp này, đa dạng hóa xuất khẩu sẽ xuất hiện khi tỷ trọng xuất khẩu giữa các ngành và giữa các đối tác thay đổi.
Điều này sẽ giúp cho cơ cấu xuất khẩu được trở nên cân bằng hơn, bớt sự tập trung và phụ thuộc vào một ngành hàng cụ thể hay một quốc gia đối tác nhất định. Thước đo đa dạng hóa xuất khẩu Hiện nay, các thước đo phổ biến về Đa dạng hóa xuất khẩu được đề cập trong các nghiên cứu định lượng có thể kế đến như: chỉ số Theil, chỉ số Herfindahl (HHI), chỉ số Gini. Chỉ số Theil Chỉ số Theil được Cadot & cộng sự (2011) xây dựng như sau: 𝑛 1 𝑒𝑥𝑖 𝑒𝑥𝑖 𝑇ℎ𝑒𝑖𝑙 = ∑ ln( ) (1.1) 𝑛 𝜇 ̅̅̅ 𝑒𝑥 𝑖=1 Trong đó: 𝑒𝑥 ̅̅̅ là kim ngạch xuất khẩu trung bình của n dòng sản phẩm. 𝑛 1 ̅̅̅ = ∑ 𝑒𝑥𝑘 𝑒𝑥 𝑛 𝑖=1 8 Chỉ số Herfindahl Công thức tính chỉ số Herfindahl (Chỉ số HHI) là: 𝒏 𝒆𝒙𝒊 𝟐 𝑯𝑯𝑰 = ∑ ( ) (1.2) 𝑿𝑲 𝒊=𝟏 Trong đó 𝑒𝑥𝑖 là giá trị xuất khẩu sản phẩm/ngành i, XK là tổng xuất khẩu trong năm, n là tổng số sản phẩm/ngành.
Chỉ số Herfindahl dao động trong khoảng từ 0 đến 1, HHI càng cao cho thấy mức độ đa dạng hóa xuất khẩu càng thấp. Chỉ số Gini Tỷ trọng của ngành i trong tổng xuất khẩu 𝑠𝑖 = 𝑒𝑥𝑖 / ∑𝑛𝑖=1 𝑒𝑥𝑖 được tính toán. Sau đó, các tỷ trọng này được sắp xếp theo thứ tự tăng dần, tức là 𝑠𝑖 < 𝑠𝑖+1 với ∀𝑖 = ̅̅̅̅̅̅̅̅̅̅ 1, 𝑛 − 1, và tính ra tỷ trọng xuất khẩu tích lũy 𝑋𝐾𝑡 = ∑𝑡𝑖=1 𝑠𝑖. Chỉ số Gini được tính từ tỷ trọng xuất khẩu tích lũy như sau: 𝑛 𝑋𝐾𝑡 + 𝑋𝐾𝑡−1 𝐺𝑖𝑛𝑖 = 1 − ∑ 𝑛 𝑡=1 Chỉ số Gini giao động từ 0 đến 1, giá trị càng nhỏ biểu thị mức độ đa dạng hóa xuất khẩu càng cao.
Chỉ số Gini và có phân phối rất lệch phải cũng như giá trị thay đổi rất ít qua thời gian, vì vậy ít khi được sử dụng trong các phân tích định lượng. Khái niệm nghèo đói Có rất nhiều quan điểm về khái niệm của nghèo đói đang được các tổ chức và quốc gia sử dụng để định nghĩa: Theo Liên Hợp Quốc: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Nghèo là không có khả năng có lựa chọn và cơ hội. Nó có nghĩa là thiếu năng lực cơ bản để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.” Ngân hàng Thế Giới đưa ra định nghĩa: “Nghèo là sự thiếu thốn nhiều khía cạnh.
Nghèo thể hiện ở thu nhập thấp và không có khả năng có được những hàng hóa 9 và dịch vụ cơ bản cần thiết cho sự sống còn. Nghèo cũng bao gồm thiếu khả năng tiếp cận y tế và giáo dục, thiếu nước sạch và vệ sinh, an ninh vật chất không đầy đủ, thiếu tiếng nói, không đủ năng lực và cơ hội để sống tốt hơn.” Báo cáo “Phát triển con người” năm 1997, UNDP đã đề cập đến khái niệm: “Nghèo đói về năng lực khi đề cập đến các yếu tố nguồn lực của cá nhân hoặc của hộ gia đình (bao gồm cả nguồn lực vật chất: tài chính, các công cụ phục vụ sản xuất và phi vật chất: các quan hệ xã hội/vốn xã hội, vốn con người,…). Theo quan niệm này, một cá nhân hay một hộ gia đình được xác định là nghèo khi họ thiếu các cơ hội tiếp cận các nguồn lực đảm bảo cho cá nhân hoặc hộ gia đình có được một cuộc sống cơ bản nhất “có thể chấp nhận được””. Các khái niệm nghèo đa chiều, được đề cập đến bởi các quốc gia và tổ chức quốc tế, là minh chứng cho sự đồng thuận rằng nghèo không chỉ là một vấn đề đơn thuần mà còn là một hiện tượng phức tạp, đa mặt.
Nghèo không chỉ là sự thiếu hụt về tài nguyên vật chất, mà còn bao gồm cả các khía cạnh về mặt tinh thần và xã hội. Tình trạng nghèo không thể được hiểu một cách hẹp hòi, mà cần phải được nhìn nhận dưới góc độ toàn diện, bao gồm cả việc không đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của con người. Điều này ám chỉ rằng một cá nhân bị nghèo đa chiều không thể đạt được ít nhất một số nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống và phát triển. Đặc điểm nghèo đa chiều bao gồm không chỉ việc thiếu hụt thực phẩm, nước sạch, và chỗ ở ổn định, mà còn bao gồm cả việc thiếu hụt giáo dục, chăm sóc sức khỏe, cơ hội nghề nghiệp và sự tham gia xã hội.
Điều này tạo ra một chuỗi tương tác phức tạp, làm cho việc thoát khỏi tình trạng nghèo trở nên khó khăn và đòi hỏi sự can thiệp đa phương và tích cực từ cộng đồng quốc tế. Nghèo và nghèo đói đều phản ánh sự thiếu thốn nhu cầu cơ bản của con người trong xã hội nhưng hai thuật ngữ này lại có những điểm khác biệt. Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.