Chương 1: Giới thiệu đề tài. Nội dung này bao gồm lý do chọn đề tài; trình bày mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu; đồng thời tóm lược về phương pháp và số liệu nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và thực tiễn. Chương này trình bày các nội dung tổng quan lý thuyết và các tài liệu liên quan đến nghiên cứu như các khái niệm về đa dạng hóa và cách đo lường; các vấn đề về thu nhập của nông hộ; tổng quan các nghiên cứu đã có; các phương pháp phân tích thành phần chính.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này nêu rõ phương pháp xây dựng các chỉ số; khung phân tích, mô tả các biến số; xây dựng các mô hình; số liệu nghiên cứu; phương pháp tính chỉ số. Chương 4: Phân tích ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến thu nhập của nông hộ tại xã Phú Tân huyện Tân Phú Đông. Trình bày kết quả nghiên cứu mô tả, phân tích đánh giá hiện trạng thu nhập và đa dạng hóa thu nhập cùng các yếu tố ảnh hưởng đến nó của các nông hộ.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 123doc 5 Từ những kết quả phân tích ở Chương 4, Chương 5 sẽ tóm lược kết quả nghiên cứu chính, đưa ra kết luận và gợi ý chính sách. Đồng thời nêu lên những hạn chế trong nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Chương này trình bày các nội dung tổng quan lý thuyết và các tài liệu liên quan đến nghiên cứu như các khái niệm về đa dạng hóa và cách đo lường; các vấn đề về thu nhập của nông hộ; tổng quan các nghiên cứu đã có; các phương pháp phân tích thành phần chính.1 Các khái niệm và công thức liên quan đến vấn đề nghiên cứu 2.1 Các khái niệm về đa dạng hóa Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đa dạng hóa thu nhập, trong báo cáo Đặc điểm kinh tế nông thôn Việt Nam (2007) có trích định nghĩa về đa dạng hóa thu nhập của 2 tác giả Joshi và Ersado có cùng quan điểm là đề cập đến sự gia tăng một trong số các nguồn thu nhập hay sự cân bằng giữa các nguồn khác nhau.
Một hộ gia đình với hai nguồn thu nhập sẽ đa dạng hơn so với một hộ chỉ với một nguồn thu nhập, hay khi hai hộ gia đình đều có hai nguồn thu nhập mà hộ có mỗi nguồn đóng góp 50% vào tổng thu nhập, sẽ được xem là đa dạng hơn so vớ hộ gia đình có hai nguồn mà một trong đó chiếm 90% còn một nguồn chỉ 10% của tổng thu nhập (Joshi, 2002; Ersado, 2003). Theo quan điểm của Reardon (1997) và Escobal (2001) thì ở một khía cạnh khác thì đa dạng hóa cũng có thể là đa dạng hóa nguồn thu nhập có nghĩa là trong nông nghiệp thì ngoài thu nhập từ công việc đồng áng người nông dân cũng có thêm thu nhập từ phi nông nghiệp (các ngành nghề ngoài nông nghiệp, tiền công và tự tạo việc làm). Sự đa dạng hóa này có thể giúp tăng thu nhập, trong thời gian dài sẽ gây ra sự chuyển đổi cơ cấu trong khu vực hoặc quốc gia. Ví dụ, số liệu thống kê thử Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp trong tổng GDP giảm từ 24,5% năm 2000 xuống 20,58% năm 2010.
Đa dạng hóa cũng có thể là việc chuyển đổi từ sản xuất lương thực tự cung tự cấp sang thương mại nông nghiệp. Không nhất thiết phải có cả sự gia tăng về số lượng hay cân bằng các nguồn thu nhập mà cũng có th ể là chuyển một phần của sản lượng 123doc 7 nông hộ thực hiện cho giá trị tiền mặt. Ví dụ, một nông dân có thể chuyển từ việc sản xuất hạt, củ và các loại rau khác nhau sang chuyên tiêu thụ chỉ một hoặc một vài loại cây trồng (Delgado và Siamwalla, 1997). Ngoài ra, đa dạng hóa thu nhập cũng có thể là sự chuyển đổi từ sản xuất cây trồng có giá trị thấp sang cây trồng, vật nuôi và các hoạt động phi nông nghiệp có giá trị cao hơn.
Giá trị cao hơn có thể hiểu là giá trị được tính trên cùng 1 đơn vị trọng lượng hoặc cũng có thể là giá trị kinh tế tạo ra cao hơn trên một đơn vị lao động, đất đai. Có thể thấy, đa dạng hóa sản xuất cây trồng ở các hoạt động có giá trị cao thường đa dạng hơn là chỉ ở cây trồng và các nguồn thu nhập bình thường. Tuy nhiên, điều này không phải luôn luôn như vậy. Ví dụ, tại vùng nông thôn hiện nay nếu người nông dân có cả sản xuất lúa và chăn nuôi gia cầm, nhưng người nông dân lại quyết định chuyên chăn nuôi gia cầm, thì điều này sẽ là sự đa dạng hóa theo cách chuyển từ hoạt động có giá trị thấp thành một hoạt động có giá trị cao hơn, tuy nhiên đây không được xem là đa dạng hóa theo ý nghĩa của đa hoạt động.
Trong nghiên cứu này tác giả sẽ tiếp cận vấn đề đa dạng hóa thu nhập theo quan điểm của Joshi và Ersado có nghĩa là một hộ gia đình với hai nguồn thu nhập sẽ đa dạng hơn so với một hộ chỉ với một nguồn thu nhập, hay khi hai hộ gia đình đều có hai nguồn thu nhập mà hộ có mỗi nguồn đóng góp 50% vào tổng thu nhập, sẽ được xem là đa dạng hơn so vớ hộ gia đình có hai nguồn mà một trong đó chiếm 90% còn một nguồn chỉ 10% của tổng thu nhập.2 Đo lường đa dạng hóa thu nhập Có nhiều cách thức khác nhau để đo lường mức độ đa dạng hóa như: + Hệ số đa dạng hóa phi nông nghiệp (NAI - Non-agricultural Diversification Index) thể hiện sự đa dạng hóa thu nhập thông qua sự đa dạng hóa của các ngành nghề phi nông nghiệp xuất hiện trong nông hộ. Hệ số này càng cao thể hiện tính đa dạng hóa các hoạt động phi nông nghiệp trong hộ nông thôn càng cao. + Chỉ số đa dạng hóa cây trồng (Crop Diversification Index – CDI) dùng để đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập thông qua mức độ đa dạng hóa cây trồng trong mô hình cây trồng của hộ. Nếu toàn diện tích của hộ trồng 1 loại cây, tức là chuyên 123doc 8 canh thì giá trị chỉ số bằng 0.
Nếu diện tích của hộ được phân bổ đều cho nhiều loại cây trồng, tức là đa canh thì chỉ số có giá trị tiến về 1. + Tần số đa dạng hóa đây là chỉ số phản ánh mức độ đa dạng hóa thu nhập thông qua tỷ lệ tần số xuất hiện của các ngành nghề trong nông hộ so với tổng số ngành nghề phổ biến tại địa phương. + Hệ số Simpson (Simpson Index Diversification – SID) hệ số đa dạng hóa Simpson này là một biện pháp đo lường độ đa dạng thường được sử dụng trong sinh thái học để định lượng mức độ đa dạng sinh học của môi trường sống, sự phong phú của mỗi loài. Tuy nhiên, vẫn có thể áp dụng trong nghiên cứu kinh tế để đo lường mức độ đa dạng hóa các hoạt động sản xuất trong nông hộ, nếu chuyên môn hóa 1 hoạt động thì SID = 0, SID càng cao thì mức độ đa dạng hóa thu nhập càng cao và chỉ số này cũng tiến về 1.
Chỉ số này được tính toán như sau: ∑ Trong đó: Pi = tỷ trọng thu nhập của hoạt động thứ i trên tổng thu nhập (1≥ SID ≥ 0) Như vậy, trong giới hạn về cách tiếp cận của nghiên cứu trong vấn đề đa dạng hóa thu nhập, đề tài sẽ sử dụng công thức SID - Simpson Index Diversification do công thức này được tính toán dựa trên tỷ lệ đóng góp thu nhập của từng ngành nghề trong tổng thu nhập, chỉ số này có cách tính toán phù hợp với quan điểm của Joshi và Ersado về đa dạng hóa thu nhập vì thế công thức này được sử dụng trong ước lượng mức độ đa dạng hóa thu nhập.3 Các vấn đề liên quan đến thu nhập Theo định nghĩa của Tổng cục thống kê về thu nhập của nông hộ thì thu nhập của nông hộ là toàn bộ số tiền và giá trị quy thành tiền của tất cả các hiện vật có được trong sản xuất sau khi trừ đi chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận 123doc 9 được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm. Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng. Thu nhập của hộ bao gồm: - Thu nhập từ tiền công, tiền lương; - Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp; - Thu nhập từ sản xuất thủy sản; - Thu nhập từ hoạt động kinh doanh dịch vụ; - Thu nhập từ nguồn thu khác tính vào thu nhập; - Thu nhập từ phi nông nghiệp và thủy sản.4 Các vấn đề liên quan đến nông hộ * Khái niệm hộ nông thôn Có rất nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ nông thôn: Trong giáo trình Kinh tế nông hộ của tác giả Trai-a-nốp (1992) có viết: “Hộ nông thôn là đơn vị sản xuất rất ổn định” và tác giả cho rằng “Hộ nông thôn là đơn vị tuyệt đối để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp”. Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển.
Tác giả Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001, “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”. Tác giả Lê Đình Thắng (1993) thì cho rằng: “Hộ nông thôn là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”.