Đặt vấn đề Đại dịch Coronavirus còn được gọi là COVID-19 do vi rút SARS-CoV-2 beta- coronavirus gây ra có nguồn gốc từ Vũ Hán (Trung Quốc) vào những tháng cuối năm 2019 và nhanh chóng lây nhanh khắp hầu hết các quốc gia trên Thế Giới. Chỉ sau vài tháng bùng dịch, căn bệnh gây nguy hiểm đến tính mạng con người này đã thống trị hơn nửa bản đồ Thế Giới. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (2021) vào giữa tháng 3/2021, hơn 123 triệu người đã nhiễm vi rút; hầu như không có vùng nào của đất nước an toàn trước đại dịch này. Do tính chất dễ lây lan của vi rút, gần như tất cả các quốc gia buộc phải áp dụng các biện pháp tạo khoảng cách xã hội cùng với kiểm dịch gay gắt (Gupta và cộng sự, 2020; Liu và cộng sự, 2020), điều này đã dẫn đến giảm tổng cầu đối với hầu hết hàng hóa và dịch vụ trên thế giới, cùng với đó là sự sụt giảm nghiêm trọng của hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động kinh tế nói chung.
COVID-19 đã đặt ra những tình huống khẩn cấp về sức khỏe trên toàn thế giới. Đây chắc hẳn rằng là một đại dịch kéo dài lâu nhất và ảnh hưởng nặng nề nhất đến kinh tế của mọi quốc gia. Cho đến thời điểm hiện tại, tin tức về đại dịch COVID-19 cũng như sự ảnh hưởng của nó vẫn không hạ nhiệt luôn là tin nóng trên các mặt báo chí truyền thông trên Thế Giới. Tại Việt Nam, ca nhiễm bệnh đầu tiên bắt đầu vào cuối tháng 1/2020, Chính phủ bắt đầu có những lệnh phong toả, cách ly khiến nền kinh tế bắt đầu gặp khó khăn, không thể không nhắc đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Việc tiến hành vắc-xin tiêm chủng hàng loạt để đảm bảo an toàn cho người dân đã được Chính phủ đưa lên hàng đầu trong những chính sách nhằm đối phó với đại dịch. Theo Our Word, Việt Nam đứng thứ tư trong Đông Nam Á về số người dân được tiêm chủng chiếm 78,47% tỷ lệ dân số trên cả nước; tỷ lệ người dân đã tiêm đủ liều là 80,4% dân số. Đây là con số vượt mức đề ra trước đó từ chính phủ góp phần đẩy lùi dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân và đưa đất nước dần trở lại cuộc sống bình thường mới. Tuy là đã phần nào kiểm soát được dịch bệnh song hậu quả mà COVID-19 gây cho Thế giới nói chung và Việt Nam 2 nói riêng là vô cùng nghiêm trọng.
Không chỉ là vấn đề của riêng từng quốc gia nào mà đại dịch COVID-19 là nỗi lo ngại của cả thế giới do thương mại toàn cầu suy giảm mạnh, hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch, sản xuất, kinh doan,.bị đình trệ, hầu hết nền kinh tế tại các khu vực trên Thế giới đều đã và đang rơi vào tình trạng suy thoái. Ngành công nghiệp thực phẩm là ngành có mạng lưới khá là phức tạp khi sản xuất kinh doanh phải có sự góp mặt của nông dân và doanh nghiệp sản xuất để làm ra được sản phẩm cung cấp cho người tiêu dùng (New World Encyclopedia, 2017). Hơn hết là cuộc khủng hoảng COVID-19 diễn ra đồng thời với những thay đổi lớn trong nhận thức liên quan đến thực phẩm trên Thế giới, sự thay đổi đó và giúp định hình các mô hình mới của ngành công nghiệp thực phẩm, với số hóa, đổi mới và sức khỏe được đặt lên hàng đầu. Thực phẩm được coi là một phần quan trọng của cơ sở hạ tầng một quốc gia cùng với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, năng lượng, truyền thông,.
vì vậy, hoạt động sản xuất cần được duy trì để cung cấp thức ăn cho người dân trong thời gian đại dịch (Krebs và cộng sự, 2020). Song, lĩnh vực này phải đối mặt với thách thức do gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo đó, các chuyên gia đánh giá COVID-19 đang tác động mạnh mẽ đến ngành thực phẩm một số thách thức mới nảy sinh cùng với tác động lâu dài và nghiêm trọng của đại dịch đối với nền kinh tế, đó là: Làn sóng lây nhiễm/bùng phát COVID-19 mới, tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu. Một số thách thức khác đến từ bên trong doanh nghiệp bao gồm: (1) Đảm bảo an toàn y tế và lao động tại nơi làm việc; (2) Khả năng nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu chi phí để đáp ứng nhu cầu; (3) Mức giảm quy mô nhân sự/năng suất; (4) Khả năng quản lý hiệu quả các mô hình làm việc từ xa và tại chỗ kết hợp.
Hơn hết, do đặc thù ngành sử dụng lực lượng lao động lớn, chi phí xét nghiệm cho lao động sẽ trở thành một gánh nặng lớn đối với doanh nghiệp nếu không có được sự hỗ trợ từ Chính phủ. Đứng trước nguy cơ đó, doanh nghiệp còn đối mặt với bức tranh tài chính xấu đến từ lợi nhuận thu được trong suốt thời gian đại dịch xảy ra. Các ban quản lý và lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp đều nhận 3 được một bài học đáng giá về sự sống còn cũng như cần phải đưa ra cách quản lý điều hành tài chính mới để phù hợp với chủ trương Chính phủ hiện tại. Tại Việt Nam, ngành công nghiệp thực phẩm vốn là ngành tiềm năng phát triển xuất nhập khẩu tuy nhiên đối mặt với đại dịch COVID-19 là một thách thức rất lớn cho sự tồn tại của các doanh nghiệp này.
Trước năm 2020, thị trường ngành thực phẩm liên tục tăng trưởng và được đánh giá đầy tiềm năng. Tốc độ tăng trưởng hàng năm (CAGR 2021-2025) là 4,98% với quy mô thị trường dự kiến sẽ lên đến 678 triệu đô la Mỹ vào năm 2025. Đứng trước đại dịch COVID-19 Vietnam Report (2020), có gần 48% số doanh nghiệp tham gia khảo sát cho rằng không chịu tác động của đại dịch hoặc mức độ tác động ít, không đáng kể. Tuy nhiên, tác động kéo dài của đại dịch trở nên rõ nét hơn sau đợt bùng phát kể từ tháng 7 với tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động ở mức nghiêm trọng đã lên tới hơn 91%.
Điều này cho thấy sức chống chọi của doanh nghiệp ngành thực phẩm đã có dấu hiệu đuối dần. Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng vững chắc ở mức 5,6% trong nửa đầu năm 2021, các chỉ số kinh tế vĩ mô duy trì lạc quan và ổn định. Tuy nhiên, khi tình hình trở nên xấu và phức tạp hơn với biến thể Delta và Chính phủ buộc phải đưa ra phương châm “chống dịch như chống giặc”. Theo đó, tổng sản phẩm trong nước quý III/2021 ước tính giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay.
Tuy nhiên, giai đoạn phục hồi với chiến dịch tiêm chủng diện rộng vào giữa năm 2022 đã giúp làm ngắn lại thời gian phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh. Với con số được dự báo khá tích cực với 47% số doanh nghiệp ước tính mất khoảng 6 tháng, 33% số doanh nghiệp mất khoảng 7-12 tháng và 13% mất nhiều hơn 12 tháng. Đặc biệt, khi đại dịch được kiểm soát đã giúp địa phương và doanh nghiệp giải quyết nút thắt về logistics và lao động, từ đó thúc đẩy tốc độ phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy rằng ảnh hưởng của COVID-19 gây ra có bản chất khác với các cuộc khủng hoảng kinh tế trước đây nhưng do mức độ sụt giảm nghiêm trọng đến các doanh nghiệp khi phải thi hành chính sách cách ly và phong toả tạm thời.
Từ đây xuất hiện bài toán khó cho các nhà quản lý về việc quản lý hoạt động tài chính của 4 công ty mình, đảm bảo mang lại lợi nhuận. Trong bối cảnh COVID-19 hiện tại cùng với thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt và gay gắt giữa các doanh nghiệp cùng ngành, làm sao các doanh nghiệp ngành thực phẩm vẫn có thể đạt được khả năng sinh lời như mong muốn luôn là một câu hỏi được quan tâm. Yazdanfar (2013) cho rằng một trong những điều kiện tiên quyết quan trọng cho sự tồn tại và thành công lâu dài của doanh nghiệp là lợi nhuận của doanh nghiệp. Thành tích và các mục tiêu tài chính khác của doanh nghiệp bị ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Những yếu tố này rất quan trọng vì nó mang lại hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế, việc làm, đổi mới và thay đổi công nghệ. Mục tiêu chính của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận của họ. Không có lợi nhuận, một doanh nghiệp không thể thu hút vốn từ bên ngoài và doanh nghiệp sẽ không phát triển bền vững. Hiểu được khả năng sinh lời là yếu tố chính giúp các nhà quản lý xây dựng chiến lược hiệu quả cho doanh nghiệp của họ (Zutter & Gitman, 2011).
Do đó việc nghiên cứu phân tích tác động của các đại dịch Covid-19 đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thực niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam luôn là một vấn đề được quan tâm. Nhận biết được thực tiễn trên, bài luận này nghiên cứu Tác động đại dịch COVID-19 đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại Việt Nam nhằm mục đích nghiên cứu sự ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 lên khả năng tạo ra lợi nhuận của các doanh nghiệp đó sẽ chỉ ra rõ những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực nào làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp đưa ra kiến nghị nhằm khắc phục thực trạng và đối phó với đại dịch trong dài hạn 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu này nhằm mục đích xem xét khả năng sinh lời của các công ty ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bị ảnh hưởng trong thời kỳ đại dịch COVID-19.
Từ kết quả nghiên cứu khoá luận đưa ra khuyến nghị cho nhà quản trị tài chính và nhà đầu tư công ty trong tương lai. Mục tiêu cụ thể 5 Đầu tiên, nghiên cứu sự tác động của đại dịch đến khả năng sinh lời của các công ty ngành thực phẩm niêm yết tại Việt Nam Sau đó, đưa ra khuyến nghị các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các công ty 1. Câu hỏi nghiên cứu Thứ nhất, mức độ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến khả năng của các công ty ngành thực phẩm niêm yết tại Việt Nam như thế nào? Thứ hai, giải pháp nào nhằm góp phần nâng cao hoạt động kinh doanh của các công ty ngành thực phẩm niêm yết tại Việt Nam? 1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1.