Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 đến các hộ gia đình phi nông nghiệp (Nghiên cứu trường hợp tại xã Thạch Khoán - huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ)" được thực hiện bởi sinh viên Hà Phương Linh, chuyên ngành Xã hội học, Khoa Khoa học Xã hội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (niên khóa 2018 – 2022) dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Thu Hà.
Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ tác động sâu rộng của đại dịch Covid-19 đối với toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê trong 6 tháng đầu năm 2021, có 12,8 triệu người bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch bệnh, bao gồm 557 nghìn người mất việc làm, 4,1 triệu người tạm nghỉ sản xuất kinh doanh, 4,3 triệu người bị cắt giảm giờ làm hoặc nghỉ giãn việc (chiếm 34,1%) và 8,5 triệu lao động bị giảm thu nhập (chiếm 66,4%). Tại khu vực nông thôn, quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã thúc đẩy sự hình thành của nhiều ngành nghề phi nông nghiệp như thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp nhằm giải quyết lao động dư thừa và nâng cao mức sống. Tuy nhiên, các hoạt động phi nông nghiệp nông thôn vốn có đặc thù phân tán, quy mô nhỏ lẻ, thiếu vốn và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Khi đại dịch bùng phát cùng các biện pháp giãn cách xã hội, khu vực kinh tế này phải đối mặt với sự đứt gãy sinh kế nghiêm trọng.
Địa bàn xã Thạch Khoán (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ) vốn là một xã miền núi thuần nông, nhưng đang chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ sang các hoạt động phi nông nghiệp như cửa hàng tạp hóa, dịch vụ sửa chữa xe, làm tóc, spa, sản xuất than củi, ván ép. Sự xuất hiện của dịch bệnh đã làm đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa phương, khiến đời sống người dân biến động.
Câu hỏi nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là: Tình hình sinh kế và điều kiện sống của các hộ gia đình phi nông nghiệp trong đại dịch Covid – 19 như thế nào?
Để giải quyết vấn đề trên, đề tài xác định hệ thống mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu chung: Tìm hiểu ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 đến các hộ gia đình phi nông nghiệp tại xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Tìm hiểu đặc điểm chung của các hộ gia đình phi nông nghiệp tại xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Mục tiêu 2: Tìm hiểu ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 đối với việc làm và thu nhập của hộ gia đình phi nông nghiệp tại xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Mục tiêu 3: Tìm hiểu ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 đối với điều kiện sống của hộ gia đình phi nông nghiệp tại xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 đến các hộ gia đình phi nông nghiệp.
- Khách thể nghiên cứu: Các hộ gia đình phi nông nghiệp tại xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào đặc điểm chung của hộ gia đình phi nông nghiệp; tác động của dịch bệnh đến việc làm, thu nhập và điều kiện sống (nhà ở, tiện nghi, chăm sóc sức khỏe, an ninh môi trường sống).
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi thời gian: Thu thập thông tin sơ cấp từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2022; số liệu thứ cấp được tổng hợp từ năm 2007 đến năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu xã hội học thực nghiệm (nghiên cứu trường hợp), kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính dựa trên hai lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết biến đổi xã hội: Vận dụng các luận điểm xã hội học (của J. Lenski, W. Ogburn, Auguste Comte, được tổng hợp bởi Lê Ngọc Hùng, 2011) để phân tích sự chuyển dịch cấu trúc hành vi, thiết chế và nếp sống dưới tác động của các cú sốc tự nhiên - dịch bệnh. Tác giả sử dụng lý thuyết này để chỉ ra sinh kế của các hộ phi nông nghiệp bị biến đổi (giảm thu nhập, thay đổi việc làm, đứt gãy quy mô buôn bán) và cách các hộ gia đình điều chỉnh hành vi để thích nghi với môi trường sống mới.
- Lý thuyết hệ thống AGIL của Talcott Parsons: Hệ thống xã hội được vận hành qua bốn chức năng thiết yếu: Thích ứng (Adaptation - A, tiểu hệ thống kinh tế), Hướng đích (Goal Attainment - G, hệ thống chính trị/chính quyền), Liên kết (Integration - I, thiết chế pháp luật, trật tự xã hội) và Duy trì khuôn mẫu lặn (Latent-Pattern Maintenance - L, gia đình, văn hóa). Khung AGIL giải thích cách thức các hộ gia đình (tiểu hệ thống L) huy động nguồn lực kinh tế (A), tiếp nhận sự hỗ trợ và điều tiết từ chính quyền địa phương (G), tuân thủ kiểm soát hành chính (I) nhằm duy trì trạng thái cân bằng và bảo đảm mức sống tối thiểu trước các tác động ngoại cảnh.
Các khái niệm thao tác hóa được định hình rõ ràng:
- Đại dịch Covid-19: Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2010) và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC, 2020).
- Gia đình và Hộ gia đình: Kế thừa định nghĩa của Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý (2007) và Nguyễn Đức Tuyến (2003), xác định hộ gia đình là nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, cùng chung sống, cùng sở hữu tư liệu sản xuất và thụ hưởng thành quả chung.
- Phi nông nghiệp: Kế thừa quan điểm của Nguyễn Minh Tú (2014) và Đỗ Thị Hương (2014), xác định là các ngành nghề ngoài nông, lâm, ngư nghiệp (thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp) nhằm giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập.
Phương pháp nghiên cứu thực địa:
- Địa bàn nghiên cứu: Xã Thạch Khoán có diện tích tự nhiên 1.676,44 ha, dân số đa phần là dân tộc Mường (53%) và người theo đạo Thiên Chúa (31%). Xã có đường tỉnh lộ 316 chạy qua, gồm 10 khu dân cư (sau khi sáp nhập từ 13 khu), có 08 công ty, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thu hút hơn 400 lao động.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo kinh tế - xã hội từ UBND xã Thạch Khoán, số liệu từ Tổng cục Thống kê, sách báo khoa học và các bài nghiên cứu liên quan.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
- Điều tra bảng hỏi: Thực hiện khảo sát chọn mẫu toàn bộ (n = 35) trên tổng số 35 hộ gia đình thuộc nhóm buôn bán - dịch vụ tại địa bàn xã Thạch Khoán. Người trả lời là đại diện chủ hộ.
- Phỏng vấn sâu (PVS): Thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc, cơ cấu gồm: 01 cán bộ UBND xã; 10 chủ hộ buôn bán - dịch vụ; 01 hộ thuần nông không tham gia phi nông nghiệp; 01 chủ đại lý cung ứng hàng hóa lớn; 02 khách hàng tiêu dùng tại địa phương.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Xử lý thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) bằng phần mềm SPSS đối với dữ liệu định lượng; phân tích nội dung theo chủ đề đối với dữ liệu định tính từ các biên bản phỏng vấn sâu.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Giới thiệu
Nội dung phần này xác lập tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về các hộ gia đình phi nông nghiệp tại nông thôn miền núi trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Tác giả tổng hợp bức tranh vĩ mô về sự đứt gãy việc làm, suy giảm mức bán lẻ tiêu dùng (giảm 0,8% trong 6 tháng đầu năm 2020) và tình trạng suy giảm thu nhập của các hộ kinh doanh cá thể. Phần 1 cũng làm rõ vị trí địa lý, cấu trúc dân cư của xã Thạch Khoán, đồng thời công bố hệ thống mục tiêu, đối tượng, khách thể, câu hỏi nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu từ năm 2007 đến 2022.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế về hai trục chính: thực trạng chuyển dịch lao động phi nông nghiệp tại nông thôn Việt Nam và tác động nhiều mặt của dịch Covid-19 đến hộ gia đình. Các công trình của Nguyễn Minh Sang (2017), Trần Xuân Hồng (2021), Judy Yang (2020), Đỗ Văn Quân (2021) được trích dẫn nhằm chứng minh rằng nhóm lao động phi nông nghiệp nông thôn chịu tổn thương nặng nề nhất do đứt gãy chuỗi cung ứng và sức mua sụt giảm. Đồng thời, chương này thiết lập khung lý thuyết biến đổi xã hội và mô hình hệ thống AGIL của Parsons, làm cơ sở lý luận giải thích quá trình hộ gia đình thích ứng với rủi ro dịch bệnh.
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương phương pháp trình bày cụ thể quá trình lựa chọn địa bàn nghiên cứu tại xã Thạch Khoán (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ) với các đặc thù về kinh tế - xã hội miền núi. Tác giả mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa điều tra toàn bộ 35 hộ kinh doanh dịch vụ bằng bảng hỏi chuẩn hóa và 15 cuộc phỏng vấn sâu phân tầng các nhóm đối tượng liên quan. Khung phân tích được biểu đồ hóa thể hiện sự tác động của dịch Covid-19 lên ba chiều cạnh: đặc điểm hộ, việc làm - thu nhập, và điều kiện sống.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm của khóa luận, phản ánh các phát hiện định lượng và định tính:
- Thông tin chung và đặc điểm nhân khẩu của hộ gia đình:
- Độ tuổi của chủ hộ: Tập trung chủ yếu ở nhóm 41 – 50 tuổi với tỷ lệ 51,4% (18 người); nhóm 51 – 60 tuổi chiếm 25,7% (9 người); nhóm 30 – 40 tuổi chiếm 22,9% (8 người). Độ tuổi trung bình thể hiện lực lượng trụ cột là lao động trung niên.
- Giới tính của chủ hộ: Nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 85,7% (30 người), nữ giới chỉ chiếm 14,3% (5 người, thường là các trường hợp đơn thân, ly hôn hoặc góa bụa).
- Trình độ học vấn: Trình độ chủ hộ nhìn chung ở mức trung bình, với 40,0% tốt nghiệp THCS (14 người) và 37,1% tốt nghiệp THPT (13 người). Tỷ lệ qua đào tạo nghề/trung cấp đạt 11,5% (4 người) và cao đẳng/đại học đạt 5,7% (2 người); tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học chiếm 5,7% (2 người) và không có trường hợp mù chữ (0%).
- Loại hình việc làm của chủ hộ: Buôn bán, dịch vụ chiếm 54,3% (19 người); lao động tự do chiếm 20,0% (7 người); công nhân xưởng, xí nghiệp chiếm 14,3% (5 người); cán bộ, công nhân viên chức chiếm 11,4% (4 người).
- Quy mô thành viên và lao động: Quy mô hộ phổ biến là gia đình hạt nhân 4 thành viên (chiếm 62,8%), hộ 3 thành viên chiếm 22,9%, hộ 2 thành viên chiếm 14,3%. Số thành viên trung bình là 3,5 người/hộ. Về số lao động, hộ có 2 lao động chiếm 57,1%, hộ có 3 lao động chiếm 40,0%, hộ có 1 lao động chiếm 2,9%. Trung bình một hộ có 2,5 lao động.
- Lao động tham gia trực tiếp phi nông nghiệp: Trung bình mỗi hộ có 1,5 lao động trực tiếp làm phi nông nghiệp. Cụ thể: hộ có 1 lao động phi nông nghiệp chiếm 54,3% (19 hộ); hộ có 2 lao động chiếm 42,9% (15 hộ); chỉ có duy nhất 1 hộ có 3 lao động tham gia (chiếm 2,9%).
| Chỉ báo nhân khẩu - xã hội |
Phân loại chỉ báo |
Số lượng (n=35) |
Tỷ lệ (%) |
| Độ tuổi chủ hộ |
30 – 40 tuổi |
8 |
22,9 |
|
41 – 50 tuổi |
18 |
51,4 |
|
51 – 60 tuổi |
9 |
25,7 |
| Giới tính chủ hộ |
Nam |
30 |
85,7 |
|
Nữ |
5 |
14,3 |
| Học vấn chủ hộ |
Tiểu học |
2 |
5,7 |
|
THCS |
14 |
40,0 |
|
THPT |
13 |
37,1 |
|
Trung cấp / Học nghề |
4 |
11,5 |
|
Đại học / Cao đẳng |
2 |
5,7 |
| Việc làm chính chủ hộ |
Buôn bán, dịch vụ |
19 |
54,3 |
|
Lao động tự do |
7 |
20,0 |
|
Công nhân nhà máy, xí nghiệp |
5 |
14,3 |
|
Cán bộ, công chức, viên chức |
4 |
11,4 |
| Quy mô thành viên hộ |
2 thành viên |
5 |
14,3 |
|
3 thành viên |
8 |
22,9 |
|
4 thành viên |
22 |
62,8 |
| Số lao động phi nông nghiệp trực tiếp |
1 lao động |
19 |
54,3 |
|
2 lao động |
15 |
42,9 |
|
3 lao động |
1 |
2,9 |
- Ảnh hưởng của dịch bệnh đến việc làm và thu nhập:
- Biến động việc làm: Có 3 hộ ghi nhận thành viên bị thất nghiệp hoàn toàn trong dịch (rơi vào lao động tự do lái xe du lịch và công nhân may tại xưởng Chí Lai bị cắt giảm nhân sự); 2 hộ phải đóng cửa cơ sở kinh doanh do cạn vốn, chuyển sang làm công việc thủ công hoặc làm thuê nhật dụng.
- Quy mô kinh doanh: 74,3% số hộ (26 hộ) giữ nguyên quy mô diện tích mặt bằng nhưng thu hẹp số lượng hàng hóa nhập về; 25,7% số hộ (9 hộ) chủ động cắt giảm quy mô, bỏ bớt các kệ hàng không thiết yếu (giày dép, đồ chơi); không có hộ nào mở rộng quy mô (0%).
- Tính chất hoạt động kinh doanh: Trước đại dịch, 100% hộ kinh doanh (35 hộ) duy trì hoạt động ổn định, thường xuyên. Từ năm 2021 đến thời điểm khảo sát, có tới 88,6% hộ (31 hộ) rơi vào trạng thái kinh doanh bấp bênh, không ổn định; chỉ 11,4% số hộ (4 hộ) giữ được tính ổn định do kinh doanh hàng hóa thiết yếu và thuốc chữa bệnh.
- Thời gian làm việc: Thời gian buôn bán bị cắt giảm đáng kể do các quy định phòng dịch của địa phương (yêu cầu đóng cửa trước 22 giờ) và do sức mua sụt giảm.
| Thời gian bán hàng hàng ngày |
Trước đại dịch (Số lượng) |
Trước đại dịch (%) |
Từ năm 2021 đến 2022 (Số lượng) |
Từ năm 2021 đến 2022 (%) |
| Dưới 8 giờ / ngày |
1 |
2,9 |
4 |
11,4 |
| Trên 8 giờ / ngày |
18 |
51,4 |
3 |
8,6 |
| Không cố định / có khách mới bán |
16 |
45,7 |
28 |
80,0 |
| Tổng cộng |
35 |
100,0 |
35 |
100,0 |
- Điều kiện sống và mức độ an toàn:
- Mặc dù thu nhập sụt giảm, phần lớn các hộ vẫn duy trì được cơ sở vật chất nhà ở kiên cố và bán kiên cố, tiện nghi sinh hoạt cơ bản được bảo toàn.
- Về chăm sóc y tế: Khi thành viên trong gia đình nhiễm Covid-19, đa số các hộ thực hiện cách ly và tự điều trị tại nhà dưới sự hướng dẫn y tế của Trạm Y tế xã; chủ động tăng cường dinh dưỡng, bổ sung vitamin và thực hiện thông điệp 5K.
- Về an ninh trật tự: Môi trường sống tại khu vực nông thôn được đánh giá an toàn, không phát sinh xáo trộn lớn về trật tự an ninh.
- Vấn đề hỗ trợ xã hội: Chính quyền địa phương đã triển khai một số chính sách miễn giảm thuế, hỗ trợ gạo, lương thực cho người dân. Tuy nhiên, mức độ hỗ trợ thực tế còn khiêm tốn, tiến độ tiếp cận chính sách còn chậm so với nhu cầu thực tế của các hộ kinh doanh.
Phần 5: Kết luận
Khóa luận tổng kết lại các biến đổi kinh tế - xã hội chính của hộ phi nông nghiệp tại xã Thạch Khoán; khẳng định dịch Covid-19 đã làm suy giảm việc làm, thu hẹp quy mô hoạt động và giảm thời gian lao động của các hộ. Đồng thời, tác giả khái quát tính chủ động của các hộ trong việc thích ứng, chuyển đổi phương thức buôn bán và trông đợi các chính sách hỗ trợ kịp thời để phục hồi sản xuất.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã trích xuất và hệ thống hóa được các kết quả thực nghiệm tại xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ:
- Phản ánh chính xác cơ cấu hộ phi nông nghiệp vùng bán sơn địa: Quy mô lao động trung bình đạt 2,5 lao động/hộ nhưng chỉ có 1,5 lao động tham gia trực tiếp vào phi nông nghiệp; 54,3% hộ chỉ duy trì 1 lao động chuyên trách buôn bán, còn lại kết hợp làm công nhân hoặc lao động tự do.
- Đo lường mức độ suy thoái của hoạt động kinh doanh hộ cá thể: Hoạt động buôn bán thường xuyên giảm từ 100% xuống còn 11,4%; số hộ duy trì thời gian làm việc trên 8 giờ/ngày giảm từ 51,4% xuống chỉ còn 8,6%; tỷ lệ làm việc không cố định tăng vọt lên 80,0%.
- Nhận diện cơ chế thích ứng sinh kế: Hộ kinh doanh thích ứng bằng cách loại bỏ hàng hóa xa xỉ, tập trung 100% vào hàng nhu yếu phẩm; một số cơ sở chuyển dịch sang hình thức nhận đơn hàng và giao hàng tận nơi qua mạng xã hội (Facebook, Zalo) nhằm đáp ứng nhu cầu hạn chế tiếp xúc của người dân.
Giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất từ kết quả khảo sát:
- Chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý cần đẩy nhanh tiến độ thẩm định, giải ngân các gói hỗ trợ an sinh xã hội, giảm thiểu thủ tục hành chính để trợ lực kịp thời cho các hộ kinh doanh nhỏ lẻ.
- Triển khai các gói tín dụng chính sách ưu đãi, hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng để hộ kinh doanh bổ sung vốn lưu động phục hồi cửa hàng sau dịch.
- Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghề và ứng dụng công nghệ thông tin, kinh doanh số, giúp người dân đa dạng hóa kênh tiêu thụ hàng hóa ngoài phương thức bán lẻ truyền thống.
Đóng góp của khóa luận:
- Bổ sung nguồn dữ liệu thực địa về tác động của dịch Covid-19 đối với các hộ gia đình phi nông nghiệp ở cấp độ vi mô tại một xã miền núi đa dân tộc (Thạch Khoán, Phú Thọ).
- Vận dụng thành công mô hình lý thuyết hệ thống AGIL để làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa khả năng thích ứng kinh tế của hộ gia đình với các can thiệp điều tiết của chính quyền cơ sở trong bối cảnh khủng hoảng y tế công cộng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn nghiên cứu được xác định từ nội dung văn bản:
- Hạn chế về dung lượng và đối tượng mẫu: Khảo sát định lượng được thực hiện trên mẫu nhỏ gồm 35 hộ gia đình và chỉ giới hạn ở nhóm ngành buôn bán - dịch vụ tiêu dùng, chưa bao quát được toàn diện các loại hình phi nông nghiệp khác tại địa phương như sản xuất ván ép, đốt than củi hay các nhóm xưởng gia công cơ khí.
- Hạn chế về thời gian nghiên cứu: Dữ liệu sơ cấp chỉ được thu thập tập trung trong giai đoạn ngắn (tháng 3 đến tháng 4 năm 2022) - thời điểm dịch bệnh đã bước vào giai đoạn bình thường mới và tỷ lệ bao phủ vaccine đã cao, do đó chưa đo lường trọn vẹn sự biến thiên thu nhập theo từng đợt bùng phát dịch trước đó (năm 2020 – 2021).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô khảo sát sang các xã lân cận của huyện Thanh Sơn; tiến hành điều tra so sánh giữa nhóm hộ phi nông nghiệp dịch vụ với nhóm hộ phi nông nghiệp sản xuất/tiểu thủ công nghiệp; theo dõi sự phục hồi sinh kế của các hộ sau khi toàn bộ các biện pháp phòng chống dịch được dỡ bỏ.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo phù hợp cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Xã hội học, Xã hội học Nông thôn, Công tác xã hội và Phát triển nông thôn đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về biến đổi sinh kế hộ gia đình, kinh tế phi chính thức hoặc quản trị rủi ro xã hội.
- Cán bộ quản lý kinh tế - xã hội, cán bộ phụ trách lao động - thương binh và xã hội tại cấp cơ sở (xã, huyện) muốn tham khảo bức tranh thực tế về các khó khăn của khu vực hộ kinh doanh cá thể để thiết kế chính sách hỗ trợ phục hồi sau khủng hoảng.
- Phần đáng tham khảo nhất của tài liệu là phương pháp kết hợp lý thuyết AGIL vào xây dựng bảng hỏi điều tra thực địa, cùng hệ thống câu hỏi phỏng vấn sâu được thiết kế bám sát các khía cạnh đời sống vi mô của người dân nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng cỡ mẫu khảo sát là bao nhiêu và được chọn theo phương pháp nào?
Nghiên cứu khảo sát toàn bộ 35 hộ gia đình thuộc nhóm buôn bán - dịch vụ trên địa bàn xã Thạch Khoán bằng bảng hỏi chuẩn hóa đối với chủ hộ. Bên cạnh đó, tác giả tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc với các bên liên quan (01 cán bộ xã, 10 hộ buôn bán, 01 hộ nông nghiệp, 01 chủ đại lý phân phối và 02 người tiêu dùng).
2. Trình độ học vấn và đặc điểm nghề nghiệp của chủ hộ phi nông nghiệp tại xã Thạch Khoán ra sao?
Chủ hộ phần lớn có trình độ học vấn ở mức THCS (40,0%) và THPT (37,1%); tỷ lệ có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trở lên chỉ chiếm 17,2%. Về việc làm chính, 54,3% chủ hộ trực tiếp làm nghề buôn bán/dịch vụ, 20,0% làm lao động tự do, 14,3% là công nhân xưởng may/xí nghiệp và 11,4% là cán bộ, công chức.
3. Hoạt động buôn bán, kinh doanh của các hộ thay đổi như thế nào về quy mô và tính chất trong dịch bệnh?
Về quy mô, 74,3% số hộ giữ nguyên diện tích nhưng giảm lượng hàng tồn kho; 25,7% số hộ thu hẹp mặt bằng, dọn dẹp các gian hàng không thiết yếu. Về tính chất hoạt động, tỷ lệ kinh doanh ổn định sụt giảm nghiêm trọng từ 100% trước dịch xuống chỉ còn 11,4% trong giai đoạn 2021 – 2022; 88,6% số hộ rơi vào tình trạng kinh doanh không ổn định, đứt quãng.
4. Khung lý thuyết AGIL của Talcott Parsons được tác giả vận dụng như thế nào trong đề tài?
Lý thuyết AGIL được vận dụng để phân tích năng lực cân bằng của hộ gia đình: chức năng Thích ứng (A) thể hiện qua việc hộ tái cơ cấu kinh doanh và cắt giảm chi tiêu; chức năng Hướng đích (G) và Liên kết (I) thể hiện qua việc tuân thủ các quy định phòng dịch và tiếp nhận chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương; chức năng Duy trì khuôn mẫu (L) thể hiện qua việc bảo đảm an sinh nội bộ gia đình, chăm sóc sức khỏe thành viên để duy trì mức sống ổn định.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Phương Linh đã cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với việc làm, thu nhập và điều kiện sống của 35 hộ kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp tại xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Bằng phương pháp nghiên cứu xã hội học kết hợp định lượng và định tính, công trình làm rõ sự đứt gãy về thời gian lao động, tính ổn định kinh doanh và phản ánh các nỗ lực thích ứng sinh kế của người dân trong khủng hoảng. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cho công tác hoạch định chính sách an sinh và phục hồi kinh tế hộ gia đình tại khu vực nông thôn miền núi.