Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về phát triển bền vững Khái niệm về phát triển bền vững đã được Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) thông qua vào năm 1987: “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ.
Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội. phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường. Khái niệm về thảm thực vật Khái niệm về thảm thực vật (Vegetation) đã được rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học đưa ra với nhiều định nghĩa khác nhau. Theo Thái Văn Trừng (1978) cho rằng "thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thả m xanh" [30].
Trần Đình Lý (1998) cho rằng: "thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất. Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào. Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn" [20]. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và ở Việt Nam Trên thế giới H.
3 download by : skknchat@gmail. Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004) [36]. Năm 1973, UNESCO đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo và cấu trúc, chia thảm thực vật thế giới thành 5 lớp quần hệ (Lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ cây bụi lùn, lớp quần hệ cây thảo) [49]. Ở Việt Nam Năm 1918, nhà bác học Pháp, Chevalier là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới châu Á đầu tiên trên thế giới).
Theo bảng phân loại này, rừng ở miền Bắc Việt Namđược chia thành 10 kiểu (theo Thái Văn Trừng, 1978) [30]. Bản phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bản phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng thuộc tổng cục lâm nghiệp Việt Nam, bảng phân loại này xây dựng năm 1960, theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn (theo Thái Văn Trừng, 1978) [30]. Loại I: Đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng. Loại II: Gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa.
4 download by : skknchat@gmail.com Loại III: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh nên trở thành nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo. Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lý. Năm 1970, Trần Ngũ Phương đưa ra bảng phân loại rừng ở miền Bắc Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: Đai rừng nhiệt đới mưa mùa, rừng á nhiệt đới mưa mùa, rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao [24]. Phan Kế Lộc (1985) dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, cũng đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau [19].
Lê Ngọc Công (2004) cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ. Ở đây, những trạng thái thứ sinh (được hình thành do tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương rẫy…) bao gồm: trảng cỏ; trảng cây bụi và rừng thưa [7]. Như vậy, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả chủ yếu tập chung ở một vùng hoặc một khu vực nghiên cứu cụ thể. Tuy vậy, số lượng công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần phải có sự nghiên cứu cụ thể hơn, rộng hơn ở từng khu vực nghiên cứu và một quốc gia.
5 download by : skknchat@gmail. Nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và Việt Nam Tolmachev I. cho rằng chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống, nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý, ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể, ông đã đưa ra nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500-2000 loài. Hiện nay trên thế giới, chưa có các con số cụ thể về thống kê chính xác tổng số loài thực vật.
Một số các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện nay có trên thế giới vào khoảng 500. Phêđôrốp (1965) đã dự đoán thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 loài quyết thực vật; 14.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác [10], [17]. Ở Việt Nam, trong thực vật chí đại cương Đông Dương và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch [45]. Nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống 1.
Những nghiên cứu về thành phần loài Trên thế giới Trên thế giới, có những công trình nghiên cứu về thành phần loài từ rất sớm như của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933) như vậy các tác giả cho thấy thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó. Vì thế, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật [23]. Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài (theo Ma Thị Ngọc Mai, 2007) [22]. 6 download by : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam Thái Văn Trừng (1978) xác định hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi và 289 họ [30].
Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1992) khi nghiên cứu “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín. Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau. Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng [34].
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 1.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2. Đặng Kim Vui (2002), nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cho thấy 1 - 2 tuổi có 76 loài thuộc 36 họ, 3 - 5 tuổi có 65 loài thuộc 34 họ, 5 - 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ, 11 - 15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ [42]. Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 7 download by : skknchat@gmail.com 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến…[7]. Những nghiên cứu về thành phần dạng sống Phổ dạng sống của hệ thực vật cho phép ta đánh giá về tính chất sinh thái của vùng địa lý,về mức độ bị tác động nhiều hay ít của hệ thực vật của một vùng và là cơ sở để so sánh các hệ thực vật với nhau.
Ở trên thế giới I. Theo hệ thống phân chia dạng sống thực vật của Raunkiaer (1934), thực vật có các nhóm dạng sống chính, phân biệt theo vị trí của chồi mầm trong mùa khắc nghiệt nhất đối với sinh trưởng của chúng. Theo đó có 5 nhóm dạng sống cơ bản sau [4]. Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất - Cây gỗ lớn (Mg): gồm các cây gỗ to lớn, chiều cao trên 30m.
- Cây gỗ vừa (Me): gồm các cây gỗ có chiều cao trung bình từ 8 đến 30m. - Cây gỗ nhỏ (Mi): gồm những cây gỗ có chiều cao trung bình từ 2 đến 8m. - Cây bụi hoặc cây thân gỗ (Na): có nhiều cao từ 25cm đến 8m. - Cây gỗ vừa và lớn (MM): gồm những cây gỗ có chiều cao trên 8m có thể được gộp thành một nhóm.
- Ngoài ra, sau khi nghiên cứu ở các khu vực nhiệt đới ẩm, Raunkiær còn bổ sung thêm các dạng khác gồm: - Cây chồi trên leo quấn (Lp) - Cây bì sinh, phụ sinh (Ep) - Cây chồi trên thân thảo (Hp) - Cây chồi trên mọng nước (Sp) 8 download by : skknchat@gmail. Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất 2. Hemicryptophytes (Hm): nhóm cây có chồi nửa ẩn 3. Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn 4.