Lời mở đầu Chương 2. Tổng quan nghiên cứu Chương 3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4. Kết quả nghiên cứu Chương 5.
Kết luận và khuyến nghị 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Thị trường hiệu quả a. Khái niệm thị trường hiệu quả Một thị trường trong đó giá chứng khoán được điều chỉnh nhanh chóng và nhạy cảm với các thông tin mới, hay nói cách khác, giá của chứng khoán tại mọi thời điểm luôn phản ánh đầy đủ tất cả các thông tin có sẵn được gọi là thị trường hiệu quả (Fama, 1970). Giả thuyết thị trường hiệu quả được nêu lên rằng nhà đầu tư không thể nào vượt mặt được thị trường bằng cách sử dụng mọi thông tin mà thị trường đã biết, trừ khi nhờ may mắn.
Thông tin hay tin tức trong một thị trường hiệu quả được định nghĩa là bất cứ thông tin nào có thể gây ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, mà thông tin này không thể nào biết được trong hiện tại và chỉ xuất hiện ngẫu nhiên trong tương lai. Chính những thông tin này sẽ ảnh hưởng đến sự biến động của giá cổ phiếu trong tương lai. Do đó không thể kiếm được lợi nhuận bằng cách căn cứ vào các thông tin đã biết hay những hình thái biến động của giá cả trong quá khứ. Các giả thuyết về thị trường hiệu quả Về lý thuyết, một thị trường được coi là hiệu quả hoàn hảo khi đạt hiệu quả trên cả ba mặt cơ bản: hiệu quả về mặt phân phối (các tài lực khan hiếm được phân phối để sử dụng một cách tốt nhất), hiệu quả về mặt hoạt động (chi phí giao dịch thấp, tốc độ xử lý và thực hiện giao dịch nhanh) và hiệu quả về mặt thông tin (giá cả hiện hành phản ánh đầy đủ và tức thời tất cả thông tin có ảnh hưởng tới thị trường).
Tuy nhiên, trong lý thuyết thị trường hiệu quả người ta giả định rằng thị trường chứng khoán có hiệu quả về mặt phân phối và hoạt động, tức là, khi nói tới thị trường hiệu quả thì đồng nghĩa với quan điểm thị trường hiệu quả về mặt thông tin. Từ đó, giả thiết về thị trường hiệu quả được phát biểu như sau: - Thị trường hiệu quả đòi hỏi phải có một số lượng lớn các nhà đầu tư tham gia thị trường cạnh tranh với nhau và cùng theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và cùng tiến hành phân tích và định giá chứng khoán hoàn toàn độc lập với nhau. 4 - Các thông tin mới liên quan đến chứng khoán xuất hiện trên thị trường một cách hoàn toàn ngẫu nhiên và tự động. Thời điểm một thông tin được công bố độc lập, không phụ thuộc vào thông tin khác.
- Quyết định mua/bán của các nhà đầu tư để tối đa hóa lợi nhuận sẽ khiến cho giá chứng khoán điều chỉnh nhanh chóng để phản ánh chính xác thông tin mới. - Vì giá chứng khoán được điều chỉnh cho tất cả các thông tin mới nên giá của những chứng khoán này sẽ phản ánh tất cả các thông tin có sẵn và được công bố rộng rãi ở mọi thời điểm vì thế mà nó sẽ phản ánh không thiên lệch tất cả những thông tin có sẵn hiện thời và đã bao gồm rủi ro của việc nắm giữ chứng khoán. - Các thông tin xuất hiện trên thị trường một cách độc lập, ngẫu nhiên và có một lượng lớn nhà đầu tư cạnh tranh để điều chỉnh giá chứng khoán nhanh chóng theo thông tin mới sẽ dẫn đến việc giá chứng khoán biến động độc lập và ngẫu nhiên. Để thị trường hiệu quả về mặt thông tin đòi hỏi phải có một lượng giao dịch đủ lớn, và càng nhiều giao dịch thì thông tin mới sẽ phản ánh càng tốt và càng nhanh chóng hơn.
Do giá chứng khoán phản ánh đầy đủ và tức thì các thông tin hiện đang có và công khai với công chúng tại mọi thời điểm, vì thế, giá chứng khoán ở tại thời điểm đó, bao gồm cả các loại rủi ro đối với chứng khoán đó. Như vậy, nếu thị trường là hiệu quả, tỷ suất sinh lời kỳ vọng của giá chứng khoán hiện tại phải phản ánh được mức độ rủi ro của nó, nghĩa là các nhà đầu tư mua ở mức giá hiệu quả sẽ nhận được tỷ suất lợi nhuận tương ứng với rủi ro của chứng khoán đó. Các hình thái thị trường hiệu quả Các hình thái của thị trường hiệu quả được phân chia thành ba dạng cơ bản căn cứ trên mức độ khác nhau trong sự phản ánh của giá cả đối với thông tin trên thị trường: Thị trường hiệu quả dạng yếu (weak form); thị trường hiệu quả dạng trung bình (semi-strong form) và thị trường hiệu quả dạng mạnh (strong form). - Thị trường hiệu quả dạng yếu: Mức giá chứng khoán hiện tại phản ánh tất cả các thông tin về thị trường chứng khoán trong quá khứ, bao gồm giá, tỷ suất lợi nhuận, khối lượng giao dịch và một số thông tin chung về thị trường như 5 giao dịch lô lẻ, giao dịch của nhà tạo lập thị trường.
Do có giả định rằng tất cả các thông tin về giá, khối lượng giao dịch và tỷ suất sinh lời quá khứ đã được phản ánh trong giá chứng khoán hiện tại nên tỷ suất sinh lời của chứng khoán trong tương lai không có mối quan hệ nào với các thông tin trong quá khứ nữa mà sẽ chỉ phụ thuộc vào thông tin mới trong tương lai. Như vậy, các nhà đầu tư sẽ không thể sử dụng các dữ liệu về thị trường trong quá khứ để dự báo biến động giá trong tương lai và đầu tư kiếm lợi dựa trên những phân tích như vậy. - Thị trường hiệu quả dạng trung bình: Giá chứng khoán được được điều chỉnh nhanh chóng và phản ánh đầy đủ các thông tin đã được công bố ra công chúng. Giả thiết thị trường hiệu quả dạng trung bình bao hàm cả thị trường hiệu quả dạng yếu, do đó ngoài các dữ liệu về giá, tỷ suất sinh lời, khối lượng giao dịch quá khứ, thông tin công bố ra công chúng còn bao gồm các thông tin phi thị trường như lợi nhuận của doanh nghiệp; cổ tức chi trả; tỷ số giá trên thu nhập P/E, giá trên giá trị sổ sách P/BV, hệ số cổ tức D/P; chia, tách, gộp cổ phiếu; thông tin về triển vọng ngành; thông tin về nền kinh tế vĩ mô; thông tin về chính trị, xã hội, v.v… Các nhà đầu tư đưa ra quyết định dựa trên các thông tin trên sẽ không thể kiếm được lợi nhuận vượt trội do bất kỳ thông tin nào mới được công bố ra công chúng (tích cực hay tiêu cực) đều sẽ được phản ánh ngay vào giá.
- Giả thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh: Thị trường có hiệu quả về thông tin mạnh nhất khi giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin từ các nguồn tin công bố ra công chúng lẫn thông tin nội bộ. Nếu trường hợp đó xảy ra, sẽ không có một nhóm nhà đầu tư nào có được ưu thế và thông tin, kể cả cổ đông nội bộ. Và như vậy, không có nhà đầu tư nào có thể tạo ra lợi nhuận vượt trội, tất cả mọi người đều có cơ hội tiếp cận thông tin như nhau mà không tốn chi phí thu thập thông tin. Thị trường hiệu quả là lý tưởng mà các nhà đầu tư trên thị trường muốn đạt tới khi mà tất cả các nhà đầu tư đều có cơ hội tiếp cận thông tin như nhau một cách công bằng.
Tuy nhiên, đạt được hiệu quả tuyệt đối là vô cùng khó. Có nhiều công trình trên thế giới đã kiểm định mức độ hiệu quả của thị trường ở nhiều quốc gia khác nhau. 6 Tuy nhiên, kết quả có xu hướng trái ngược nhau. Trong khi kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy sự hiệu quả của thị trường, các nghiên cứu khác không tìm thấy tính hiệu quả của thị trường.
Ngoài ra, trên thị trường tài chính ở nhiều quốc gia trên thế giới vẫn tồn tại những điểm bất thường trái ngược với giả thiết thị trường hiệu quả và không thể được giải thích theo những mô hình kinh tế thông thường. Do đó, tài chính học hành vi ra đời sử dụng các lý thuyết cơ bản dựa trên tâm lý con người để giúp giải thích những hiện tượng bất thường trên thị trường tài chính và phần nào bổ sung cho những khiếm khuyết của lý thuyết về thị trường hiệu quả. Các phương pháp kiểm định thị trường hiệu quả Để xem xét xem một thị trường chứng khoán của một quốc gia có hiệu quả hay không, đầu tiên phải kiểm nghiệm xem thị trường đó có đạt hiệu quả dạng yếu hay không. Chỉ khi chứng thực được nó đó là hiệu quả ở dạng yếu thì tiếp theo mới có thể tiếp tục kiểm nghiệm dạng trung bình rồi đến dạng mạnh có tồn tại hay không (Wong và Kwong, 1984).
Với mỗi kiểm định dạng thị trường khác nhau cần có cách tiếp cận khác nhau. - Kiểm định hiệu quả dạng yếu: cần kiểm định tính chuẩn, kiểm định tính dừng dựa trên lược đồ tự tương quan và kiểm định nghiệm đơn vị. - Kiểm định hiệu quả dạng trung bình: các nghiên cứu nhằm dự đoán tỷ suất lợi tức tương lai bằng việc sử dụng những thông tin công khai trừ các thông tin thị trường thuần túy như mức giá và khối lượng giao dịch đã được xem xét trong kiểm định dạng yếu. Ngoài ra, các nghiên cứu sự kiện khảo sát xem các cổ phiếu điều chỉnh nhanh như thế nào đối với các sự kiện kinh tế cụ thể quan trọng.
- Kiểm định hiệu quả dạng mạnh: để kiểm định thị trường hiệu quả dạng mạnh cần biết được thời điểm khi nào xuất hiện thông tin nội bộ hay thông tin nội gián. Các nhà đầu tư xác định giá trị chứng khoán dựa trên dự báo về doanh thu, chi phí của doanh nghiệp trong tương lai. Tài chính hành vi a. Khái niệm tài chính học hành vi Tài chính học hành vi (behavioral finance) ra đời vào những năm 1990, là một phân ngành kinh tế học nhằm tìm ra cách thức các trạng thái tâm lý của các chủ thể kinh tế (nhà đầu tư, nhà phân tích, nhà quản trị danh mục đầu tư, v.v…) ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư của họ và giá cả trên thị trường.
Tài chính hành vi chỉ ra rằng cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái cân bằng không phải lúc nào cũng có thể xảy ra và loại bỏ các giả định của tài chính học thông thường, là hầu hết các nhà đầu tư trên thị trường đều rất suy nghĩ, phản ứng với thông tin để ra quyết định đầu tư một cách hợp lý (rational) và thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong một thị trường tài chính hiệu quả.