CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỨC ĐỘ THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU VÀ TÀI KHOẢN VÃNG LAI 1. Tổng quan về mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu 1. Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu Một khái niệm trong Competitive Advantage (1985) được Michael Porter lần đầu tiên đề cập đến là “Chuỗi giá trị” dưới góc độ chi phí và giá trị chuỗi các hoạt động ở cấp độ doanh nghiệp, được giải thích là: “Tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa các yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc một nhóm sản phẩm và các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm, nhóm sản phẩm đó theo một phương thức nhất định” (OCD, 2019).
Trong đó, Porter đề xuất tiếp cận chuỗi giá trị dựa trên chuỗi hoạt động theo liên kết theo cấu trúc hai nhóm: Một là, các hoạt động chính gồm các hoạt động mang tính vật chất và hai là các hoạt động hỗ trợ cho hoạt động chính. Hình 1: Sơ đồ chuỗi giá trị Porter Nguồn: Porter, 1985 11 Các hoạt động chính - Logistics đầu vào: bao gồm các hoạt động liên quan đến tiếp nhận, tồn kho, phân phối đầu vào. Các hoạt động này gắn với hoạt động nhận, tồn trữ, quản lý các yếu tố đầu vào. Làm tốt một trong các hoạt động này sẽ dẫn tới giảm chi phí và tăng năng suất.
- Vận hành: những hoạt động liên quan đến việc hình thành sản phẩm cuối cùng từ nguyên liệu đầu vào để sẵn sàng bán cho khách hàng. Kiểm soát tốt hoạt động này mang lại những sản phẩm có chất lượng, hiệu suất cao hơn, phản ứng với điều kiện thị trường nhanh hơn. - Logistics đầu ra: bao gồm các hoạt động liên quan đến việc tiếp nhận, lưu trữ, quản lý hàng hóa, vận hành các hoạt động phân phối và xử lý các đơn đặt hàng. Đánh giá chất lượng của hoạt động này cho thấy hiệu suất và mức độ phục vụ khách hàng đang ở mức nào.
- Marketing và bán hàng: xoay quanh các vấn đề cung cấp phương tiện để khách hàng mua hoặc thúc đấy họ mua sản phẩm. - Dịch vụ: những hoạt động nhằm duy trì hoặc tăng cường giá trị của sản phẩm sau khi đã bán hàng cho khách. Hoạt động hỗ trợ Đây là nhóm các hoạt động xuất hiện trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp với mục đích hỗ trợ nâng cao sức cạnh tranh. Ở đó, mỗi công ty có một cách hoạt động mang đặc điểm riêng mà từ đó cấu trúc của các hoạt động hỗ trợ có thể được xác định một cách linh hoạt.
Nhưng nhìn chung, chúng đều có một dạng bao gồm: - Thu mua: Khâu này gồm những thao tác liên quan đến việc tìm mua đầu vào từ nguyên liệu sản xuất đến các sản phẩm phục vụ quá trình sản xuất. - Quản trị nguồn nhân lực: đảm nhiệm công việc tuyển dụng, thuê lao động, đào tạo/ huấn luyện, phát triển và thu nhập của nhân sự. 12 - Phát triển công nghệ: mang trong mình bí quyết, quy trình kinh doanh của doanh nghiệp nên đóng vai trò quan trọng đối với việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. - Cơ sở hạ tầng: hệ thống quản trị tổng hợp, lập kế hoạch chiến lược/ tài chính/ phương thức vận hành doanh nghiệp, pháp lý, kế toán và quản trị chất lượng.
Các hoạt động này hỗ trợ sự vận hành của các thành phần khác trong toàn bộ chuỗi giá trị do vậy có tính chất gắn kết và vai trò cao. Thông qua mô hình này, có thể thấy rõ lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp chính là thế mạnh để tham gia vào chuỗi giá trị và nó cho phép các giai đoạn trong quá trình cung cấp hàng hóa của doanh nghiệp được phân biệt một cách rõ ràng. Sau đó 17 năm, hai nhà nghiên cứu Raphael Kaplinsky và Mike Morris người Mỹ đã dựa trên quan điểm này để định nghĩa rằng: “Chuỗi giá trị toàn cầu (CGTTC) là một dây chuyền sản xuất kinh doanh theo phương thức toàn cầu hoá trong đó có nhiều nước tham gia, chủ yếu là các doanh nghiệp tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế chế tạo tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng”. Theo đó, nhóm tác giả mở rộng quan điểm theo hướng tập trung sự liên kết giữa vòng đời sản phẩm và giá trị tạo ra ở mỗi công đoạn, từ đó doanh nghiệp có thể đánh giá và chủ động đưa ra quyết định lựa chọn tham gia vào công đoạn nào thì phù hợp nhất.
Đến năm 2007, nhìn nhận CGTTC ở góc độ rộng hơn, Coe và Hass (2007) cho rằng đây là kết quả của quá trình phân tán sản xuất. Cụ thể, “Chuỗi giá trị toàn cầu được hiểu là trình tự của hoạt động sản xuất, tạo ra sản phẩm cuối cùng cho người sử dụng cuối cùng, trong đó hoạt động sản xuất gắn chặt với mối quan hệ giữa các công ty. Khái niệm tập trung vào mối quan hệ giữa nhà cung ứng trong nước – nước ngoài, công ty mẹ – chi nhánh nước ngoài, hoạt động thuê ngoài (outsourcing)” (Đinh Thị Thanh Long, 2015). Trong bài nghiên cứu này, tác giả tiếp cận CGTTC dưới góc độ là chuỗi cung ứng thương mại dịch vụ, cụ thể: “Chuỗi giá trị toàn cầu là toàn bộ quá trình sản xuất hàng hóa, từ nguyên liệu thô cho tới thành phẩm, được thực hiện ở bất cứ nơi nào mà kỹ năng và nguyên liệu cần thiết để sản xuất đều có sẵn tại mức giá cạnh tranh cũng như đảm bảo chất lượng thành phẩm”.
Đặc điểm và phân loại chuỗi giá trị toàn cầu Tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa, các doanh nghiệp có thể được xếp vào một trong hai CGTTC: một là chuỗi do người sản xuất chi phối, hai là chuỗi do người mua chi phối (Nguyễn Hoàng Ánh, 2008), theo đó: Bảng 1: Đặc trưng của chuỗi giá trị do người mua và người sản xuất chi phối Chuỗi giá trị do người Chuỗi giá trị do người sản xuất chi phối mua chi phối Người chi phối Vốn công nghiệp Vốn thương mại Các yếu tố cạnh tranh Nghiên cứu và phát triển; Thiết kế; Marketing cơ bản sản xuất Quy mô của các nền kinh Phạm vi hoạt động của các Rào cản thâm nhập tế nền kinh tế Hàng hóa trung gian, hàng Các khu vực kinh tế hóa tài chính; hàng tiêu Hàng tiêu dùng, mau hỏng dùng lâu bền Các ngành điển hình Ô tô, máy tính, máy bay May mặc, da giày, đồ chơi Các công ty xuyên quốc Các công ty nội địa ở các Chủ sở hữu gia nước đang phát triển Liên kết mạng lưới sản Dựa vào đầu tư Dựa vào thương mại xuất chủ yếu Cấu trúc sản xuất đặc Chiều dọc Chiều ngang thù Nguồn: Gereffi, 1999 - Chuỗi giá trị toàn cầu do người sản xuất chi phối: có mạng lưới sản xuất rộng rãi (có nhiều công xưởng, nhiều chi nhánh tại nhiều nước trên thế giới), mạng lưới những nhà phân phối, nhà bán lẻ, nhà nghiên cứu thị trường đa dạng, rộng khắp vượt ra khỏi phạm vi trong một quốc gia. - Chuỗi giá trị toàn cầu do người mua chi phối: Những nhà thiết kế, nhà bán lẻ, nhà nghiên cứu thị trường đóng vai trò quan trọng như những nhà chiến lược tạo 14 ra những mối liên kết, mối quan hệ với những nhà sản xuất, những nhà kinh doanh thương mại và những công xưởng trên khắp thế giới để sản xuất ra những sản phẩm họ cần sau đó phân phối sản phẩm đó tới người tiêu dùng. Bên cạnh cách phân chia này, CGTTC cũng thường được xem xét dưới góc độ độ dài của chuỗi, theo đó: - Chuỗi giá trị ngắn thường xảy ra trong công nghiệp khai khoáng, chế biến thô thông qua khai thác – sơ chế – thương mại – tiêu thụ. - Chuỗi giá trị dài thường được quan tâm từ khâu thiết kế, marketing… mới định ra các khâu của chuỗi.
Các sản phẩm chế biến sâu, sử dụng công nghệ cao thường áp dụng chuỗi giá trị từ các khâu nghiên cứu phát triển – vệ tinh chế tạo – sản xuất lắp ráp – marketing – phân phối – tiêu thụ. Trong bài viết này, tác giả tiếp cận mức độ tham gia vào CGTTC theo hai dạng là Forward (liên kết phía trước) và Backward (liên kết phía sau) bởi dù phân loại thế nào thì về bản chất, một quốc gia xuất khẩu thuộc CGTTC luôn luôn chứa đựng hai thành phần GTGT: một là phần được sản xuất trong nước, phần còn lại là giá trị nhờ nhập khẩu được tích hợp vào sản phẩm xuất khẩu đó. Mặt hàng này có thể làm đầu vào cho quốc gia khác để tiếp tục sản xuất rồi xuất khẩu sang nước khác (hoặc quay lại nước ban đầu) hoặc cũng có thể là hàng hóa tiêu dùng cuối cùng. Forward: quốc gia xuất khẩu sản phẩm sau khi đã tạo phần giá trị nội địa (nước thứ hai) trong đó làm đầu vào (sản phẩm trung gian) cho một công đoạn sản xuất khác của quốc gia khác (quốc gia thứ ba).
Sau đó, nước thứ ba này sẽ tiếp tục xuất khẩu loại hàng hóa mới có chứa hàm lượng giá trị được tạo ra từ các quốc gia trước đó. Ở dạng này, các công ty ở quốc gia này giành quyền kiểm soát các hoạt động kinh doanh đi trước trong chuỗi giá trị từ đó có thể làm chủ trong quá trình phân phối và dành thị phần lớn hơn. Backward: một quốc gia (nước thứ hai) nhập khẩu nguyên liệu đầu vào để sản xuất, chế biến, gia công, lắp ráp… gọi chung là sản xuất hàng hóa và dịch vụ (từ nước 15 thứ nhất) nhằm gia tăng giá trị nội địa vào sản phẩm đó, sau đấy sẽ xuất khẩu sang một nền kinh tế mới (nước thứ ba). Các công ty trong quốc gia có liên kết Backward sẽ dành quyền kiểm soát các hoạt động kinh doanh đằng sau chuỗi giá trị mà họ đang tham gia.
Họ kiểm soát chuỗi cung ứng với khả năng thực hiện được lợi thế kinh tế theo quy mô tốt hơn. Đo lường Để đo lường CGTTC, WB 2020 cho rằng CGTTC của quốc gia tham chiếu i và ngành k được tính như sau: 𝐷𝑉𝑋𝑖𝑘 𝐹𝑉𝐴𝑖𝑘 𝐺𝑉𝐶 = + 𝐺𝐸 𝐺𝐸 Trong đó 𝐹𝑉𝐴𝑖𝑘 cho biết phần nào trong tổng xuất khẩu của một quốc gia bao gồm các yếu tố đầu vào đã được sản xuất ở quốc gia khác – GTGT nước ngoài. Phần này chính là tỷ trọng xuất khẩu của quốc gia mà không cộng vào GDP của quốc gia đó. Chỉ số 𝐷𝑉𝑋 thể hiện mức độ mà hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia được sử dụng làm đầu vào cho hàng hóa xuất khẩu từ các quốc gia khác, hay còn gọi là GTGT nội địa gián tiếp.