Tổng quan nghiên cứu
Phân bón hóa học là vật tư đầu vào thiết yếu của sản xuất nông nghiệp Việt Nam, chiếm trung bình 37% tổng chi phí canh tác của nông hộ, trong đó 65% số hộ khảo sát có tỷ lệ chi phí này vượt mức 30%. Với tổng nhu cầu cả nước khoảng 10 triệu tấn mỗi năm, người nông dân phải chi trả gần 5 tỷ USD, tương đương 2,7% GDP cả nước năm 2014. Từ ngày 01/01/2015, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật số 71/2014/QH13, chuyển mặt hàng phân bón từ diện chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% sang đối tượng không chịu thuế. Quyết định này đã châm ngòi cho cuộc tranh luận chính sách gay gắt giữa Bộ Tài chính (bảo vệ phương án không chịu thuế) và Bộ Công thương, Hiệp hội Phân bón cùng Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (kiến nghị áp dụng thuế suất 0%).
Trước yêu cầu cấp thiết từ Chính phủ về việc đánh giá toàn diện tác động chính sách để trình Quốc hội khóa XIV, nghiên cứu này được thực hiện nhằm lượng hóa sự thay đổi phúc lợi xã hội và phân chia gánh nặng thuế giữa ba bên: Nhà nước, nông dân và doanh nghiệp cung ứng trên thị trường phân bón giai đoạn 2014-2016. Nghiên cứu bao quát 6 loại phân bón vô cơ chủ lực (Urê, DAP, NPK, SA, Kali, Lân) chiếm trên 90% sản lượng tiêu thụ. Kết quả tính toán chỉ ra rằng việc áp dụng kịch bản thuế suất 0% sẽ tối ưu hóa phúc lợi xã hội ròng từ 626 đến 641 tỷ đồng mỗi năm, đồng thời gia tăng thặng dư người tiêu dùng cho nông hộ hơn 5.443 tỷ đồng so với kịch bản thuế suất 5%, mở ra định hướng quan trọng cho cải cách chính sách tài khóa nông nghiệp tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế học công cộng về thuế của Joseph Stiglitz (1986), dựa trên năm nguyên tắc cốt lõi: hiệu quả kinh tế, tính công bằng, sự đơn giản hành chính, tính linh hoạt và tính minh bạch. Trong đó, tổn thất phúc lợi xã hội vô ích (Deadweight Loss - DWL) được phân tích kết hợp với mô hình cân bằng cung - cầu riêng phần (Partial Equilibrium Model) để đo lường biến động của thặng dư người tiêu dùng (CS) và thặng dư nhà sản xuất - phân phối (PS).
Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết đối ngẫu (Duality Theory) cùng bổ đề Shephard nhằm thiết lập mối liên hệ giữa hàm sản xuất và hàm chi phí biên. Do thuế GTGT vận hành theo nguyên tắc liên hoàn và đánh thuế theo điểm đến, nghiên cứu mở rộng khung phân tích sang tác động liên phần đối với thị trường các yếu tố đầu vào chịu thuế (điện, than, quặng apatit, khí thiên nhiên). Số liệu cho thấy thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ chiếm 5,71% doanh thu trước thuế của doanh nghiệp sản xuất phân bón. Trong bối cảnh 11 nhà máy thuộc Vinachem và PVN chiếm trên 80% công suất cả nước, việc không cho khấu trừ thuế đầu vào đã làm dịch chuyển đường chi phí biên của nhà sản xuất nội địa từ mức chuẩn 100 đồng (ở thuế suất 0%) lên 105,71 đồng (ở diện không chịu thuế), gây biến dạng cấu trúc thị trường.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu sơ cấp được trích xuất từ cuộc Khảo sát Mức sống Hộ gia đình Việt Nam năm 2014 (VHLSS 2014) do Tổng cục Thống kê thực hiện, kết hợp cùng dữ liệu xuất nhập khẩu và sản xuất từ Tổng cục Hải quan, Bộ Công thương và các doanh nghiệp phân phối lớn như Apromaco. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 4.299 quan sát nông hộ trên phạm vi cả nước. Mẫu được chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên nhiều giai đoạn, đảm bảo tính đại diện cao cho các vùng sinh thái nông nghiệp và đặc thù canh tác lúa, cây công nghiệp.
Về phương pháp phân tích, tác giả lựa chọn mô hình hàm chi phí linh hoạt Translog (Translog Cost Function) ước lượng đồng thời hệ phương trình tỷ phần chi phí năm yếu tố đầu vào (phân bón, đất đai, lao động, máy móc, vật liệu và dịch vụ khác). Phương pháp hồi quy các phương trình dường như không liên quan (Seemingly Unrelated Regression - SUR) của Zellner được áp dụng thay thế cho OLS thông thường. Lý do lựa chọn SUR là nhằm kiểm soát các ràng buộc lý thuyết kinh tế vi mô (tính đối xứng, tính thuần nhất bậc một đối với giá), đồng thời triệt tiêu hiện tượng tự tương quan giữa các phần dư phương trình chi phí. Kiểm định Breusch-Pagan cho giá trị Chi-square đạt 5.150,38 với mức ý nghĩa 1%, khẳng định việc sử dụng hệ phương trình SUR là hoàn toàn chính xác. Dữ liệu làm sạch đạt độ tin cậy cao khi 87,88% số quan sát nằm trong giới hạn 3 lần độ lệch chuẩn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Mô hình định lượng mang lại những phát hiện quan trọng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc:
Thứ nhất, độ co giãn của cầu phân bón theo giá tại Việt Nam được ước lượng ở mức -0,70 (khoảng tin cậy 95% từ -0,7476 đến -0,6717). Kết quả này khẳng định cầu phân bón là kém co giãn trong ngắn hạn do tính chất thiết yếu đối với mùa vụ canh tác. Độ co giãn của cung phân bón theo giá đạt mức 0,60.
Thứ hai, đối với các nông hộ, cả hai phương án bãi bỏ mức thuế 5% đều mang lại lợi ích kinh tế vượt trội. Kịch bản không đánh thuế giúp giảm 4.964 tỷ đồng gánh nặng thuế và tăng 5.318 tỷ đồng thặng dư tiêu dùng; kịch bản thuế suất 0% giúp giảm 5.019 tỷ đồng gánh nặng thuế và gia tăng thặng dư tiêu dùng lên tới 5.443 tỷ đồng mỗi năm, tương đương mức tiết kiệm 5,6% trên tổng chi phí 89.577 tỷ đồng mua phân bón năm 2014.
Thứ ba, đối với ngành sản xuất và phân phối nội địa, kịch bản không chịu thuế khiến doanh nghiệp nội địa chịu thiệt hại nặng nề do không được hoàn thuế đầu vào, làm giảm 236,35 tỷ đồng lợi nhuận ròng so với kịch bản thuế 5%. Ngược lại, phương án thuế suất 0% giúp doanh nghiệp phục hồi sản lượng và tăng lợi nhuận thêm 196,50 tỷ đồng. Mức chênh lệch lợi nhuận ròng giữa kịch bản 0% và không chịu thuế lên tới 432,85 tỷ đồng mỗi năm nghiêng về kịch bản thuế suất 0%.
Thứ tư, xét trên quy mô toàn xã hội, kịch bản thuế suất 0% giúp tăng phúc lợi xã hội ròng 652,40 tỷ đồng so với thuế suất 5%, và tạo ra mức thặng dư phúc lợi ròng cao hơn kịch bản không chịu thuế từ 625,94 đến 641,05 tỷ đồng mỗi năm.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự khác biệt giữa hai phương án bắt nguồn từ bản chất cơ chế hoàn thuế đầu vào. Ở kịch bản không chịu thuế, khoản thuế GTGT đầu vào 5,71% trở thành chi phí ẩn cấu thành giá vốn hàng hóa nội địa, làm mất tính trung lập của thuế GTGT. Dữ liệu phân tích có thể được mô tả trực quan thông qua đồ thị cân bằng cung cầu riêng phần chia theo ba nhóm hàng: nhóm tự chủ hoàn toàn 100% (phân Lân), nhóm nhập khẩu một phần (Urê, DAP, NPK) và nhóm phụ thuộc 100% vào nhập khẩu (SA, Kali).
Trên đồ thị các loại phân bón có nhập khẩu, đường cung nội địa ở kịch bản không chịu thuế bị đẩy lên cao hơn đường cung ở kịch bản thuế suất 0%, khiến doanh nghiệp trong nước bị thu hẹp sản lượng trước sự cạnh tranh của phân bón ngoại nhập (vốn không chịu thuế đầu vào từ nước xuất khẩu). Đặc biệt, ma trận phân tích liên phần chỉ ra rằng mức độ tự chủ sản xuất càng cao thì tổn thất phúc lợi xã hội do kịch bản không chịu thuế gây ra càng lớn; điển hình là mặt hàng phân Lân tự sản xuất 100% có mức chênh lệch thiệt hại phúc lợi lên tới gần 550%. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Wein (2011) tại Đức và báo cáo của IMF (1991). Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra rằng việc giảm thuế chỉ làm tăng 4,6% sản lượng sử dụng phân bón, chưa đủ lớn để tạo ra nguy cơ ô nhiễm môi trường đất và nước trên diện rộng.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm hoàn thiện chính sách thuế và nâng cao năng lực cạnh tranh nông nghiệp, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:
Thứ nhất, Quốc hội khóa XIV và Bộ Tài chính cần khẩn trương sửa đổi Luật số 71/2014/QH13 theo hướng đưa mặt hàng phân bón hóa học vào diện chịu thuế suất thuế GTGT 0%. Mục tiêu chính sách là giải phóng 432,85 tỷ đồng lợi nhuận ròng cho chuỗi cung ứng sản xuất trong nước và tối ưu hóa 641,05 tỷ đồng phúc lợi xã hội ròng ngay trong kỳ điều chỉnh ngân sách giai đoạn 2016-2017.
Thứ hai, Tổng cục Thuế cần ban hành quy trình hoàn thuế GTGT điện tử nhanh chóng cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón với thời gian xử lý hồ sơ dưới 15 ngày làm việc. Giải pháp này nhằm bảo đảm khấu trừ minh bạch 100% thuế GTGT đầu vào từ nguyên liệu than, điện, khí tự nhiên và quặng apatit, hạn chế phát sinh chi phí tuân thủ thuế và bù đắp hiệu quả số hụt thu thuế 566,35 tỷ đồng thông qua các nguồn thu gián tiếp từ thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thứ ba, Bộ Công thương phối hợp cùng Hiệp hội Phân bón Việt Nam tiến hành tái cơ cấu chuỗi đại lý phân phối cấp 1 và cấp 2, kiểm soát biên lợi nhuận định mức nhằm chuyển hóa toàn bộ mức giảm giá vốn thành mức giảm giá bán lẻ tối thiểu 2% trực tiếp tới tay 11 triệu nông hộ.
Thứ tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Bộ Tài nguyên và Môi trường thiết lập khung giám sát tăng trưởng lượng sử dụng phân bón 4,6%, kết hợp xây dựng cơ chế trợ giá riêng biệt cho phân bón hữu cơ sinh học trong lộ trình 3 đến 5 năm tới.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, đại biểu Quốc hội và cán bộ chuyên trách tại Bộ Tài chính, Bộ Công thương. Luận văn cung cấp khung đo lường tác động liên phần và bằng chứng thực nghiệm rõ ràng để thẩm định, xây dựng các đạo luật thuế công bằng, hài hòa giữa an ninh lương thực và nguồn thu ngân sách.
Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp sản xuất và phân phối phân bón (Vinachem, PVN, Apromaco). Nghiên cứu cung cấp công cụ phân tích cấu trúc chi phí biên, phản ứng cung cầu và chiến lược định giá nhằm tối ưu hóa công suất vận hành nhà máy trước áp lực cạnh tranh quốc tế.
Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và chuyên gia nghiên cứu kinh tế lượng ứng dụng. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc xây dựng mô hình hàm chi phí Translog, kỹ thuật hồi quy SUR đa biến trên bộ dữ liệu lớn VHLSS 2014.
Nhóm thứ tư là các tổ chức phát triển nông nghiệp và Hiệp hội Phân bón Việt Nam. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng tin cậy phục vụ hoạt động phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nông dân và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.
Câu hỏi thường gặp
Chính sách phân bón không chịu thuế gây thiệt hại gì cho các nhà sản xuất nội địa? Khi chuyển sang diện không chịu thuế, doanh nghiệp không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào của nguyên liệu như điện, than, quặng (chiếm 5,71% giá thành). Chi phí này bị tính gộp vào giá vốn, làm giảm 236,35 tỷ đồng lợi nhuận toàn ngành và khiến sản phẩm trong nước yếu thế trước hàng nhập khẩu.
Tại sao thuế suất 0% lại vượt trội hơn phương án không đánh thuế? Thuế suất 0% cho phép doanh nghiệp hoàn thuế đầu vào, hạ chi phí sản xuất chuẩn về 100 đồng thay vì 105,71 đồng. Phương án này vừa giúp nông dân tiết kiệm 5.019 tỷ đồng tiền mua phân bón, vừa tăng 196,50 tỷ đồng lợi nhuận doanh nghiệp và tạo thêm 641,05 tỷ đồng phúc lợi xã hội ròng.
Ngân sách Nhà nước chịu ảnh hưởng thế nào nếu áp dụng thuế suất GTGT 0%? So với kịch bản thuế suất 5%, ngân sách giảm thu liên phần 4.187,85 tỷ đồng. Tuy nhiên, mức giảm thu này chỉ cao hơn phương án không chịu thuế khoảng 566,35 tỷ đồng, hoàn toàn có thể bù đắp nhờ mức tăng trưởng phúc lợi xã hội 652,40 tỷ đồng và sự gia tăng nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp.
Việc giảm giá phân bón có dẫn đến tình trạng lạm dụng gây ô nhiễm môi trường không? Mô hình ước lượng chỉ ra rằng việc bãi bỏ thuế 5% chỉ làm tăng sản lượng tiêu thụ phân bón khoảng 4,6% do độ co giãn cầu theo giá của nông dân ở mức thấp (-0,70). Mức tăng này chưa vượt ngưỡng an toàn để có thể gây ra ô nhiễm đất hoặc nguồn nước trên diện rộng.
Mô hình Translog và phương pháp SUR mang lại ưu thế gì trong nghiên cứu này? Mô hình Translog kiểm soát hoàn hảo tính đối ngẫu giữa sản xuất và chi phí mà không áp đặt độ co giãn cố định. Phương pháp hồi quy SUR ước lượng đồng thời hệ 4 phương trình tỷ phần chi phí trên 4.299 quan sát VHLSS 2014, triệt tiêu sai số tương quan và mang lại kết quả ước lượng chính xác tuyệt đối.
Kết luận
- Nghiên cứu đã chứng minh tính ưu việt toàn diện của phương án áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% đối với phân bón hóa học so với phương án không chịu thuế quy định tại Luật số 71/2014/QH13.
- Ước lượng thành công độ co giãn của cầu phân bón theo giá tại Việt Nam là -0,70 và độ co giãn cung là 0,60, khẳng định tính chất thiết yếu của vật tư nông nghiệp.
- Xác lập bằng chứng thực nghiệm cho thấy kịch bản 0% giảm 5.019 tỷ đồng gánh nặng thuế cho nông dân và tạo ra lợi nhuận cao hơn 432,85 tỷ đồng cho ngành sản xuất nội địa so với diện không chịu thuế.
- Chứng minh mức cải thiện phúc lợi xã hội ròng đạt từ 625,94 đến 641,05 tỷ đồng mỗi năm, vượt trội so với mức sụt giảm nguồn thu thuế 566,35 tỷ đồng của ngân sách.
- Xác nhận mức tăng sản lượng sử dụng 4,6% nằm trong giới hạn an toàn sinh thái, phù hợp với định hướng cải cách hệ thống thuế hiện đại của Ngân hàng Thế giới.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng định lượng vững chắc giúp các cơ quan lập pháp giải quyết triệt để xung đột lợi ích chính sách. Trong giai đoạn 2016-2017, Quốc hội và Chính phủ cần sớm đưa nội dung điều chỉnh thuế suất thuế GTGT 0% đối với phân bón vào chương trình xây dựng luật nhằm bảo vệ nền sản xuất nông nghiệp và tối ưu hóa phúc lợi toàn dân.