CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG GIỮA CÁC TTCK 1. Thị trường chứng khoán và chỉ số giá chứng khoán 1. Thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra các giao dịch mua bán trao đổi các loại chứng khoán. Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, và như vậy, thực chất đây là quá trình vận động của tư bản chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
TTCK không giống với các thị trường các hàng hóa thông thường khác vì hàng hóa của thị trường chứng khoán là loại hàng hóa đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản. Loại hàng hóa này cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Như vậy, có thể nói, bản chất của TTCK là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư nào đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. TTCK là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Chỉ số giá chứng khoán Chỉ số thị trường chứng khoán là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường cổ phiếu. Nó được tổng hợp từ danh mục các cổ phiếu theo phương pháp tính nhất định. Thông thường, danh mục sẽ bao gồm các cổ phiếu có những điểm chung như cùng niêm yết tại một sở giao dịch chứng khoán, cùng ngành hay cùng mức vốn hóa thị trường. Các nhà kinh tế, chính trị gia và nhà phân tích có thể sử dụng các chỉ số chứng khoán để hiểu thị trường tài chính và các công ty trong các thị trường đó hoạt động tốt như thế nào.
Bảng dưới đây cung cấp một phân loại ngắn gọn và mô phỏng về các chỉ số nổi tiếng: 8 Bảng 1. Một số chỉ số giá cổ phiếu nổi tiếng trên thế giới Số lượng Chỉ số Mô tả ngắn gọn Phương pháp trọng số ETFs 40 công ty lớn nhất FTSE MIB Trọng số thả nổi 3 nước Ý 30 công ty lớn nhất DAX Trọng số thả nổi 5 nước Đức 50 công ty lớn nhất EURO STOXX 50 Trọng số thả nổi 10 châu Âu 1.600 công ty lớn nhất MSCI World từ các thị trường phát Trọng số thả nổi 13 triển trên toàn thế giới 500 công ty lớn nhất S&P 500 Trọng số thả nổi 13 của Mỹ Dow Jones(Industrial 30 trong số những công Trung bình theo giá 2 Average) ty lớn nhất nước Mỹ 225 công ty lớn nhất Nikkei 225 Trung bình theo giá 2 của Nhật (Nguồn: Mitrade) 1. Ảnh hưởng giữa các thị trường chứng khoán thế giới Sự hội nhập sâu rộng của các nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay giúp hệ thống tài chính tại các nước trên thế giới có sự phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau. Vì vậy, TTCK của các nước sẽ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau hơn, cụ thể các cú sốc hay sự thay đổi từ TTCK các nước này sẽ lan tỏa ảnh hưởng đến 9 TTCK các nước khác (thông thường là sự tác động một chiều từ những thị trường lớn tới những thị trường nhỏ hơn).
Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về sự tác động giữa các TTCK với nhau nhưng không thống nhất được chiều ảnh hưởng cụ thể mà tùy vào sự phát triển kinh tế của mỗi thị trường và thời gian được chọn nghiên cứu khác nhau dẫn đến kết luận cũng khác nhau. Nói cách khác, việc đánh giá sự tác động giữa các TTCK là câu hỏi thực nghiệm phải dựa trên dữ liệu về các chỉ số chứng khoán đại diện cho các thị trường đó để trả lời. Tôn Hoàng Thanh Huệ và Nguyễn Văn Duy (2015) đã tìm hiểu sự tác động của chỉ số giá thế giới lên thị trường chứng khoán Việt Nam và kết luận rằng chỉ số S&P500 và chỉ số VN-Index một ngày trước đó có tác động lên chỉ số VN-Index ngày kế tiếp. Nguyễn Trần Thanh Thanh (2016) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến TTCK Việt Nam trong đó sử dụng hai chỉ số S&P500 và SSEC làm biến độc lập và đã kết luận rằng trong dài hạn, hai chỉ số chứng khoán này có ảnh hưởng dương đến TTCK Việt Nam.
Ramchand &Susmel (1998) kiểm định giả thiết về mối tương quan tĩnh có điều kiện giữa các TTCK quốc tế và kết luận rằng mối tương quan trong giai đoạn thị trường biến động nhiều nhìn chung cao hơn so với giai đoạn thị trường ít biến động. Rigobon (2002) kiểm định sự lây lan giữa các TTCK trong giai đoạn sụp đổ của TTCK Mỹ 1987, phá giá đồng peso của Mexico 1994 và khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 dựa trên hệ số tương quan điều chỉnh. Kết luận cho thấy, chính mối liên hệ liên kết chéo mạnh mẽ giữa các thị trường là nguyên nhân gây ra hiệu ứng khủng hoảng đồng loạt trong những giai đoạn này. Yang& Min (2003) xem xét mối quan hệ dài hạn và mối quan hệ nhân quả ngắn hạn giữa các TTCK ở Mỹ và Nhật cùng 5 thị trường mới nổi của Châu Á.
Phân tích nhấn mạnh mức độ liên kết giữa các quốc gia có xu hướng thay đổi theo thời gian, 10 đặc biệt là xung quanh các thời kỳ được đánh dấu bằng một cuộc khủng hoảng kinh tế. Yan Shang (2007) phân tích mối quan hệ giữa các thị trường Châu Á gồm Nhật, Singapore, Hồng Kông, Trung Quốc và Mỹ trong các giai đoạn trước, trong và sau khủng hoảng kinh tế 1997. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong những năm khủng hoảng, giá chứng khoán ở các nước hầu như không có sự tương quan, nhưng sau khủng hoảng, các thị trường có xu hướng liên kết ngày càng tăng, trong đó thị trường Mỹ tác động mạnh nhất đến chứng khoán Châu Á. Malliaris và Urrutia (1992) phân tích tác động trước và sau khủng hoảng tài chính 1987 của các chỉ số chứng khoán ở các thị trường khác nhau để thấy được sự sụp đổ đã tạo ra sự tương tác lớn giữa các thị trường, đặc biệt là trong việc giải thích các biến động.
Trong khi đó, Masih và cộng sự (2009) nghiên cứu về mối liên kết “năng động” và cơ chế truyền dẫn thông tin của TTCK quốc tế đến từ các cú sốc trên thị trường. Bên cạnh đó, Oliveira (2009) cũng cho rằng, một thị trường phát triển hơn có thể đi trước các thị trường khác, nó có thể dự đoán với một mức giá hợp lý sự chuyển động của giá thị trường khác, tạo ra các cơ hội chênh lệch giá. Bằng chứng cho thấy, có mối quan hệ đồng biến của chỉ số Dow Jones và Bovespa, lợi nhuận của Bovespa được giải thích bởi sự thay đổi trong những phút trước của NYSE; xác định sự tồn tại của hiệu ứng lan tỏa trễ giữa TTCK Mỹ và Brazil trong giai đoạn 1996-2006 bằng cách kiểm tra Granger và Johansen. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 1.
Cơ sở lựa chọn mô hình nghiên cứu Dựa trên cơ sở lý thuyết và đặc biệt xem xét các kết quả nghiên cứu có trước, có thể nói chỉ số giá cổ phiếu là một hàm số ảnh hưởng bởi rất nhiều biến vĩ mô (biến độc lập) như tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá công nghiệp, lượng cung tiền, lãi suất,. Một số lượng lớn các nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng có ý nghĩa giữa những yếu tố kinh tế vĩ mô và giá chứng khoán. Và hiện nay, trên phạm vi 11 nghiên cứu tại Việt Nam, đa số các nghiên cứu chỉ nói tới yếu tố kinh tế vĩ mô truyền thống mà chưa có các nghiên cứu đánh giá yếu tố chỉ số giá chứng khoán của các TTCK quốc tế như chỉ số giá thị trường S&P500 của Mỹ, SSEC của Trung Quốc. Mặc dù các yếu tố này có những tác động trực tiếp tới tình hình kinh tế trong nước nói chung và chỉ số giá chứng khoán nói riêng.
Và nếu như xem các chỉ số giá chứng khoán quốc tế như những yếu tố vĩ mô thì ta có thể tìm hiểu được tác động của nó đến TTCK Việt Nam như thế nào. Danh sách các chỉ số giá chứng khoán quốc tế và những yếu tố được cho là phù hợp với TTCK Việt Nam sẽ được xem xét. Dựa trên khung lý thuyết và kết quả nghiên cứu có trước, ba chỉ số giá chứng khoán quốc tế sẽ được chọn. Những chỉ số này là chỉ số giá cổ phiếu TTCK Mỹ (S&P 500), chỉ số giá cổ phiếu TTCK Pháp (CAC 40), và chỉ số giá cổ phiếu TTCK Trung Quốc (Shanghai).
Cơ sở cho sự lụa chọn này dựa trên hai lý do: Thứ nhất, so sánh về cả thời gian hoạt động và quy mô của thị trường thì TTCK Việt Nam vẫn rất còn nhỏ và non trẻ so với các thị trường trên. Thứ hai, cả ba nước Mỹ, Pháp và Trung Quốc đều có mối quan hệ đặc biệt trong lịch sử hình thành và phát triển của Việt Nam. Vì vậy, tâm lý nhà đầu tư ít nhiều cũng sẽ quan tâm đến sự biến động của các chỉ số giá TTCK trên. Do đó, tác giả đã sử dụng ba chỉ số giá chứng khoán của ba nước trên để làm biến độc lập của nghiên cứu.
Tất cả những dữ liệu nghiên cứu trong khóa luận đều được thu nhập theo dữ liệu ngày. Khóa luận sẽ ước lượng theo mô hình hiệu chỉnh sai số ECM (Error correction model) cho việc kiểm tra sự ảnh hưởng của các chỉ số giá chứng khoán quốc tế đã nêu ở trên đến chỉ số giá cổ phiếu trên TTCK Việt Nam (VN- Index). Mô hình nghiên cứu đề xuất (+) (+) (+) LNVNI = F(LNS&P500, LNCAC40, LNSSEC) Trong đó: 12 LNVNI (Stock price VN-Index): chỉ số giá cổ phiếu tại TTCK Việt Nam (lấy logarit tự nhiên). Để ước lượng mô hình trên, khóa luận sử dụng phương pháp ước lượng theo mô hình hiệu chỉnh sai số ECM.
Khóa luận sử dụng dữ liệu quá khứ và phần mềm thống kê Eviews 10 hỗ trợ để phân tích và ước lượng mô hình. Logarit tự nhiên chỉ số giá cổ phiếu TTCK Mỹ (LNS&P500) (+) Logarit tự nhiên chỉ số giá cổ (+) Logarit tự nhiên chỉ số giá cổ phiếu TTCK Pháp phiếu TTCK Việt Nam (LNCAC40) (LNVNI) (+) Logarit tự nhiên chỉ số giá cổ phiếu TTCK Trung Quốc (LNSSEC) Sơ đồ 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất Ghi chú: Dấu cộng ghi trong ngoặc (+) là kỳ vọng về chiều ảnh hưởng của ba biến độc lập (S&P500, CAC40, Shanghai) đến biến phụ thuộc (VN-Index). Mô tả và đo lường các biến 1.
Chỉ số giá thị trường chứng khoán Việt Nam (VN-Index) Khái niệm: VN-Index là chỉ số được xây dựng dựa trên giá thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM.