Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương này giới thiệu tong quan vẻ dé tai bao gồm lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp va ý nghĩa của nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết - Xây dựng Quy trình nghiên cứu. Trình bảy cơ sở lý thuyết về DMĐT, mô hình Fama — French 3 nhân tố và mô hình Fama — French 5 nhân tố. Chương này cũng trình bảy tóm tắt một số nghiên cứu kiêm định 2 mô hình Fama — French tại một số TTCK trên thé 2101, dé xuất quy trình nghiên cứu va các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 6 Mô tả cách thức thu thập dữ liệu, phân chia các DMDT, tính toán các chi số và phương thức xử lý số liệu trong nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả phân tích dữ liệu bao gồm hệ số tương quan giữa các nhân tố, TSSL trung bình của các DM và khả năng giải thích của mô hình Fama —French 3 nhân tổ và Fama —French 5 nhân tố.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Trình bày kết luận về kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế của dé tai và hướng nghiên cứu tiếp theo 7 CHƯƠNG 2: TONG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYET — XÂY DỰNG QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết được sử dung trong việc tiếp cận vấn đề của luận văn, đồng thời tóm tắt lại diễn biến TTCK Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và đưa ra những dự đoán cho năm 2016. Ngoài ra, chương này cũng dé cập đến đặc điểm và tình hình hoạt động cua các Quy đấu tư tại Việt Nam và đề xuất quy trình nghiên cứu của luận văn.1 Tong quan các lý thuyết nền phục vụ cho nghiên cứu.1 Thuyết thị trường hiệu quả Lý thuyết thị trường hiệu quả được phát triển bởi Giáo sư Eugene Fama tại University of Chicago Booth School of Business trong luận văn tiến sỹ của minh vào đầu những năm 1960s. Theo Fama (1980), tính hiệu quả của thị trường là khả năng và tốc độ mà tổng thể các thông tin trên thị trường ảnh hưởng tới giá chứng khoán.
Một thị trường được coi là hiệu quả khi nó đạt hiệu qua về mặt thông tin, hay nói các khác, giá của các loại tài sản được giao dịch như cô phiếu,trái phiếu, bất động sản, phản ánh được tất cả các thông tin đã biết trên thị trường. Do vậy, một thị trường hiệu quả sẽ không thiên vi ai, tức là nó không làm ai có lợi hoặc chịu thiệt một cách bất hợp lý so với người khác, theo nghĩa nó phản ánh niềm tin của tất cả các nhà đầu tư về triển vọng thị trường. Giả thuyết thị trường hiệu quả được nêu lên răng nhà đầu tư không thể nảo vượt mặt được thị trường bằng cách sử dụng mọi thông tin mà thị trường đã biết, trừ khi nhờ may mắn. Thông tin hay tin tức trong một thị trường hiệu quả được định nghĩa là bat cứ thông tin nào có thé gây ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, mà thông tin này không thể nào biết được trong hiện tại và chỉ xuất hiện ngẫu nhiên trong tương lai.
Chính những thông tin ngẫu nhiên này sẽ làm cho giá cô phiếu trong tương lai biến động. Theo giả thuyết này, những thị trường trong đó xuất hiện giao dịch nội gián (insider trading) không thé coi là thị trường hiệu qua được. Không tính các đối tượng tim cách tối đa hoá lợi nhuận, thì giả thuyết về thị trường hiệu quả đòi hỏi rằng mọi đối tượng phải có kì vọng, dự đoán hợp lý. Điều 8 đó có nghĩa là, cho dù không một ai đúng, thì tinh bình quân thị trường van đúng va bất cứ khi nào có thông tin mới xuất hiện, các đối tượng sẽ tự động cập nhật lại dự đoán của mình một cách thích hợp.
Khi đối mặt với các thông tin mới, mỗi nhà đầu tư sẽ có cách phản ứng khác nhau, tất cả những gì mà giả thuyết thị trường hiệu quả đòi hỏi chỉ là, phản ứng của các nhà đầu tư hoàn toàn ngẫu nhiên, để ảnh hưởng ròng của chúng (sau khi đã bù trừ lẫn nhau) lên giá thị trường không bị nhà dau tư khai thác dé kiếm lợi nhuận cao một cách bất thường, đặc biệt sau khi đã trừ chi phí giao dịch. Do đó, bất cứ ai cũng có thể dự đoán sai về thị trường, nhưng do giá cô phiếu bị ảnh hưởng bởi cả thị trường nên giá của nó chính là giá thị trường kì vọng, hay nói cách khác, xét trên tong thé, thi thi trường luôn đúng. Thị trường hiệu quả được phân ra 3 loại: thị trường hiệu quả dạng yếu, dạng trung bình và dạng mạnh: - Thị trường hiệu qua dạng yếu: có thé kiếm được TSSL thang dư bang cách sử dụng các chiến lược dau tư dựa trên nghiên cứu giá cô phiếu trong giai đoạn trước hoặc các số liệu tài chính khác. Trên lý thuyết, nhà dau tư giỏi hoan toàn có thê tìm kiếm lợi nhuận bang việc nghiên cứu các bao cáo tài chính, và các thông tin liên quan khác.
Tuy nhiên, việc sử dụng phân tích kỹ thuật sẽ không dẫn đến hiệu quả vượt trội do thông tin duoc sử dụng để xây dựng chiến lược đầu tư đã được phan ánh trong giá chứng khoán thực tế (Bodie và ctg, 2001). - Thị trường hiệu quả dạng trung bình: giá cô phiếu điều chỉnh trong vòng một thời gian rất nhỏ và mang tính chất công băng trước những thông tin được công bó rộng rãi trên thị trường. - Thị trường hiệu quả mạnh: giá cô phiếu phản ánh tat cả những thông tin trên thị trường bao gồm cả thông tin nội gián và không ai có thể kiếm được lợi nhuận thang dư trong dài han (Bodie và ctg, 2001). Một thị trường phát triển lành mạnh đòi hỏi trước hết nó phải là một thị trường hiệu quả.
Tuy nhiên, trên thị trường chứng khoán có một nhân tố rat quan trong, không thể bỏ qua, đó là yếu tô tâm ly, nó khiến thị trường có thé hoạt động lệch lạc ngay cả khi đó là một thị trường hiệu quả. Hiện tượng này được giải thích trong một lý thuyết khác, lý thuyết " Hành vi trong tài chính". Những người bảo vệ 9 gia thiết “thi trường hiệu quả” sé áp dung chiến lược thụ động còn những người nghĩ rang thị trường luôn tạo ra những khoảng trông cơ hội sẽ tham gia chiến lược chủ động.2 Cac mô hình đa nhân tổ của Fama- French 2.1 Giới thiệu về các mô hình đa nhân tổ của Fama - French Mô hình Fama — French 3 nhân t6 có nguồn gốc từ mô hình CAPM của Sharpe. Mô hình CAPM là mô hình nỗi tiếng và được sử dụng rộng rãi trong việc giải thích tý suất sinh lợi của các chứng khoán trên thị trường.
Trong mô hình CAPM, chỉ sử dụng một nhân tố duy nhất là nhân tổ thị trường — nhân tố beta, như một nhân tố tong thé dé so sánh gitra mot danh muc đầu tư với toàn bộ thị trường. Tuy nhiên, vào năm 1973, Fama va Macbeth đã kiêm nghiệm mô hình CAPM trên thị trường NewYork giai đoạn 1926 — 1968, kết quả cho thấy rang mặc dù có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa hệ số beta với tỷ suất sinh lợi của chứng khoán nhưng mỗi quan hệ này không hoàn toàn như mô hình CAPM dự báo. Với ý tưởng các nhân tố khác vào mô hình để có được RỂỶ tốt hơn, Fama và French đã dé suất một mô hình mới dựa trên nền tảng CAPM thêm hai nhân tổ là M/B và quy mô (Mô hình Fama — French 3 nhân tố) trong nghiên cứu “Common Risk Factors in the Returns on Stocks and Bonds” trên Journal of Financial Economics, năm 1993. Va mô hình nay đã mang về cho các ông giải thưởng Nobel danh giá.
Năm 1992, Fama- French khám phá ra rằng beta của CAPM không giải thích được suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán Mỹ thời kỳ 1963-1990. Sau đó, Fama — French đã nghiên cứu một mô hình, trong đó tong hợp bao gồm tat cả các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi như quy mô công ty, đòn bay tài chính, P/E (giá trị vốn cổ phân trên giá trị thị trường), M/B (giá trị số sách trên giá trị thị trường) và beta của các chứng khoán của NYSE, AMEX, NASDAQ. Hai ông cho rang mối quan hệ giữa beta và ty suất sinh lợi trung bình là không cao trong suốt thời kỳ, ngay cả khi dùng beta dé giải thích cho tỷ suất sinh lợi trung bình, và bản thân Sharpe — tác giả của mô hình CAPM cũng phải đồng ý với nhận định này. Trong khi đó, các kiểm định lần lượt giữa tỷ suất trung bình với quy mô, hệ số đòn bẩy, P/E và M/B cho thấy rằng tất cả các biến này đêu quan trọng và cho tín hiệu dang mong đợi.
Kết quả cuôi cùng đã chỉ ra rang, 10 M/B và quy mô là những yếu tố có mối quan hệ mạnh nhất tới tý suất sinh lợi chứng khoán và các yếu t6 còn lại (đòn bay, P/E) không thé hiện rõ vai trò của khi đưa hai yếu tố nay vào mô hình (Fama —French, 1992) Mô hình Fama —French 3 nhân t6 được giới thiệu vào năm 1993. Trong mô hình này, ngoài 2 nhân tố trên (Quy mô và M/B) nhân t6 thứ 3 được đưa vào đó là phan bu rủi ro chứng khoán. Sau khi được công bố chính thức, hai tác giả đã tiễn hành kiểm nghiệm khả năng dự báo của mô hình vào năm 1996 và 2000. Kết quả kiểm nghiệm cho thay mô hình khá thành công trong việc lượng hóa mối quan hệ giữa rủi ro và suất sinh lợi, đã được kiểm định là có hiệu quả tại các thị trường chứng khoán phát triển cũng như mới nổi.
Mặc dù chưa phải là mô hình hoàn hảo, nhưng mô hình Fama — French 3 nhân tố đã giải thích được sự thay đối của biến phụ thuộc gần với thực tê nhất một cách đơn giản, vì vậy đây là một mô hình tốt dé lựa chọn dé định giá cô phiếu (Fama — French, 2000). Mô hình Fama — French 5 nhân tô được hai tác giả chính thức giới thiệu vao năm 2015. Mô hình Fama - French 5 nhân t6 được phát triển từ mô hình Fama - French 3 nhân tố. Trong mô hình Fama — French 5 nhân to, ngoai 3 nhan tố là thị trường: quy mô và tăng trưởng, hai ông còn thêm vào hai yếu tô mới là yếu t6 đầu tư và lợi nhuận.
Đây là mô hình mới, nên cần kiểm nghiệm ở nhiều TTCK khác nhau dé kiểm tra khả năng giải thích của mô hình.2 Các nhân tố trong mô hình đa nhân to của Fama — French a.