CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ 1.1 Các loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán Trong đầu tư, những rủi ro do các yếu tố không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường được gọi là rủi ro hệ thống hay là rủi ro không phân tán được. Còn rủi ro phân tán được hay rủi ro phi hệ thống là một phần rủi ro đầu tư mà nhà đầu tư có thể loại bỏ được nếu nắm giữ một số loại chứng khoán đủ lớn. Loại rủi ro này là kết quả của những biến cố ngẫu nhiên hoặc không kiểm soát được chỉ ảnh hưởng đến một công ty hoặc một ngành công nghiệp nào đó.1 Rủi ro hệ thống Rủi ro hệ thống là những rủi ro từ bên ngoài của một ngành công nghiệp hay của một doanh nghiệp, chẳng hạn như chiến tranh, lạm phát, sự kiện kinh tế và chính trị. Đa dạng hóa đầu tư cũng không thể loại bỏ loại rủi ro này.
Rủi ro hệ thống được chia làm 3 loại rủi ro chính: 1.1 Rủi ro thị trường Giá cả cổ phiếu có thể dao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập của công ty vẫn không thay đổi. Nguyên nhân có thể rất khác nhau nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của các nhà đầu tư về các loại cổ phiếu nói chung hay về một nhóm các cổ phiếu nói riêng. Những thay đổi trong mức sinh lợi đối với phần lớn các loại cổ phiếu thường chủ yếu là do sự kỳ vọng của các nhà đầu tư vào cổ phiếu thay đổi. Đó chính là rủi ro thị trường.
Rủi ro thị trường xuất hiện do có những phản ứng của các nhà đầu tư đối với những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội hoặc nảy sinh do yếu tố tâm lý của thị trường. Tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư làm cho họ hay có phản ứng vượt quá các sự kiện đó. Những sự sụt giảm đầu tiên trên thị trường gây ra sự sợ hãi đối với các nhà đầu tư, họ sẽ cố gắng rút vốn và sau đó kéo theo những phản ứng dây chuyền làm tăng vọt số lượng bán làm giá cả chứng khoán rơi xuống thấp hơn so với giá trị cơ sở.2 Rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường do dao động trong mức lãi suất chung. Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro này là sự lên xuống của lãi suất chuẩn dẫn đến thay đổi trong mức sinh lợi kỳ vọng của các loại CP và TP công ty.
Nói cách khác, sự thay đổi về lãi suất đối với các loại TP Chính phủ sẽ dẫn đến sự thay đổi về lãi suất của các loại CK. Những thay đổi trong lãi suất TP Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống CK, từ TP cho đến các loại CP rủi ro nhất. Cơ chế tác động như sau, lãi suất TP Chính phủ thay đổi theo cung cầu trên thị trường. Khi ngân sách thâm hụt Chính phủ sẽ phát hành thêm TP để bù đắp, như vậy sẽ làm tăng mức cung CK trên thị trường.
Các NĐT tiềm năng sẽ chỉ mua các TP này nếu lãi suất cao hơn lãi suất các loại CK đang lưu hành. Do lãi suất TP Chính phủ tăng, TP sẽ trở nên hấp dẫn hơn và các loại CK khác sẽ bị kém hấp dẫn đi. Hệ quả là, những người này quyết định mua TP Chính phủ thay vì mua TP công ty, và do vậy lãi suất TP công ty cũng phải tăng lên. Lãi suất TP công ty tăng sẽ dẫn đến giá của TP giảm và cũng làm cho giá của các loại CP thường và CP ưu đãi giảm xuống như một phản ứng dây chuyền.
Như vậy, sự tăng lên của lãi suất chuẩn sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống. Hệ quả trực tiếp của việc tăng lãi suất chuẩn là giá cả của các loại CK khác giảm xuống. Vì mối liên hệ này mà lãi suất các loại TP Chính phủ có kỳ hạn khác nhau được dùng làm chuẩn để xác định lãi suất TP công ty có thời gian đáo hạn tương tự.3 Rủi ro sức mua Rủi ro sức mua là sự thay đổi trong sức mua của đồng tiền thu được. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát (giảm phát) đối với khoản đầu tư.
Nếu chúng ta xem khoản đầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, có thể thấy rằng khi một người mua CP, anh ta đã bỏ mất cơ hội mua hàng hóa hay dịch vụ trong thời gian sở hữu CP đó. Như vậy nếu trong thời gian nắm giữ CP, giá cả hàng hóa dịch vụ tăng, các NĐT bị mất một phần sức mua. Do đó rủi ro sức mua cho thấy tác động của lạm phát (giảm phát) đối với khoản đầu tư, biến động giá càng cao thì rủi ro sức mua càng tăng nếu nhà đầu tư không tính toán lạm phát (giảm phát) vào thu nhập kỳ vọng.2 Rủi ro phi hệ thống Rủi ro phi hệ thống là một phần trong tổng rủi ro gắn liền với một công ty hay một ngành nghề, lĩnh vực cụ thể ngoài những rủi ro gắn liền với toàn bộ thị trường. Những yếu tố này có thể là khả năng quản lý, thị hiếu tiêu dùng, đình công, cạnh tranh nước ngoài, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh.
Do những yếu tố này chỉ ảnh hưởng tới một ngành hay một công ty cụ thể nên chúng phải được xem xét cho từng công ty. Những rủi ro này có thể chia thành hai loại là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.1 Rủi ro kinh doanh Rủi ro kinh doanh là tính khả biến hay không chắc chắn về EBIT của DN. Có nhiều yếu tố dẫn đến tính bất ổn trong EBIT của DN, bao gồm: tính khả biến của doanh thu, các chi phí hoạt động, tính biến đổi của giá bán, sự tồn tại sức mạnh thị trường, phạm vi đa dạng hóa sản phẩm… Rủi ro kinh doanh có thể chia làm 2 loại: rủi ro từ bên trong công ty (chính sách quản trị công ty) và rủi ro từ bên ngoài công ty (môi trường kinh doanh). Rủi ro kinh doanh bên trong gắn liền với hiệu quả của hoạt động kinh doanh mà công ty đang tiến hành.
Còn rủi ro kinh doanh bên ngoài là kết quả của những ảnh hưởng môi trường kinh doanh đến lợi nhuận của công ty. Mỗi công ty phải đối mặt với một hệ thống các yếu tố rủi ro bên ngoài khá riêng biệt phụ thuộc vào môi trường hoạt động riêng biệt của chính họ. Rủi ro kinh doanh thường được tính bằng mức độ biến động của thu nhập phát sinh từ hoạt động SXKD của công ty. Sự biến động của thu nhập lại được đo bằng độ lệch chuẩn của chuỗi thu nhập hoạt động trong quá khứ của DN.2 Rủi ro tài chính Rủi ro tài chính liên quan đến việc công ty tài trợ cho hoạt động của mình.
Người ta thường tính toán rủi ro tài chính bằng việc xem xét cấu trúc vốn của một công ty. Sự xuất hiện của các khoản nợ trong cấu trúc vốn đồng nghĩa với nghĩa vụ trả lãi cho chủ nợ trước khi trả cổ tức cho cổ đông vì thế có tác động lớn đến thu nhập của họ. Do đó bằng việc đi vay, công ty đã thay đổi dòng thu nhập đối với cổ phiếu thường, làm tăng 3 mức biến động trong thu nhập của NĐT, ảnh hưởng đến dự kiến của họ về thu nhập, và như vậy làm tăng rủi ro của họ.2 Danh mục đầu tư 1.1 Khái niệm và vai trò danh mục đầu tư Danh mục đầu tư (portfolio) là sự kết hợp của hai hay nhiều chứng khoán hoặc tài sản trong đầu tư. Danh mục đầu tư là công cụ hữu hiệu để hạn chế rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận.
Khi đồng thời đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau, sự thua lỗ của một loại chứng khoán chỉ có tác động nhỏ đến toàn bộ danh mục, thậm chí nhiều khi chúng ta có thể bù lỗ bằng lợi nhuận thu được từ các chứng khoán khác trong cùng một danh mục đó. Khi đa dạng hoá danh mục đầu tư có thể triệt tiêu một cách tốt nhất rủi ro riêng biệt của chứng khoán, chỉ còn lại rủi ro thị trường, đây cũng là một trong những mục tiêu quan trọng của những nhà đầu tư chứng khoán hướng tới. Danh mục đầu tư có thể đáp ứng được khẩu vị của từng nhà đầu tư riêng lẻ. Như chúng ta đã biết, tỷ suất sinh lợi luôn đi kèm với rủi ro và khẩu vị của các nhà đầu tư là rất khác nhau.
Ví dụ các nhà đầu tư ở các lứa tuổi khác nhau sẽ có nhu cầu riêng trong chính sách lựa chọn danh mục đầu tư và liên quan đến rủi ro. Thông thường người già ưa thích đầu tư vào những chứng khoán có độ an toàn cao như trái phiếu Chính phủ, còn giới trẻ lại thích đầu tư vào những chứng khoán có độ rủi ro cao nhưng kỳ vọng lợi nhuận thu được cao. Việc lựa chọn cho mình một chứng khoán riêng lẻ đáp ứng được nhu cầu riêng của mỗi người là rất khó khăn, vì vậy sự ra đời của danh mục đầu tư sẽ giải quyết vấn đề một cách dễ dàng hơn, đáp ứng được nhu cầu thị trường, và làm thị trường chứng khoán phát triển một cách sôi động hơn.2 Nguyên lý đa dạng hoá danh mục đầu tư Trong một danh mục đầu tư, mỗi loại chứng khoán có một mức độ rủi ro khác nhau. Vì thế đa dạng hoá đầu tư là một nguyên tắc trong đầu tư chứng khoán và là giải pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro cho toàn danh mục.
Trong thực tế đã xảy ra rất nhiều trường hợp khi thêm một tài sản có tính rủi ro vào danh mục đầu tư sẽ làm giảm được rủi ro của toàn danh mục đầu tư. Khi hai hay nhiều chứng khoán tham gia cấu thành một danh mục thì mỗi cặp hai chứng khoán sẽ có những tương tác với nhau tạo ra một kết quả chung cho cả danh mục. Và đây là cơ sở của nguyên lý đa dạng hoá danh mục đầu tư. Rủi ro của những chứng khoán riêng lẻ trong danh mục đầu tư cần phải được đo luờng trong hiệu quả tác động của chúng đối với danh mục đầu tư tổng thể.
Các chứng khoán có xu hướng rủi ro trái ngược nhau là những yếu tố làm giảm thiểu rủi ro có hiệu quả. Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định thước đo rủi ro của từng chứng khoán khi đưa chúng vào danh mục đầu tư và là mấu chốt để xây dựng lý thuyết mô hình CAPM mà chúng ta đã biết.