Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chƣơng này trình bày tổng quát về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây. Chƣơng này trình bày những khái niệm cơ bản về phát hành cổ phần bổ sung, tác động lan tỏa thông tin, lý thuyết định thời điểm thị trƣờng.
Đồng thời trình bày sơ lƣợc về một số nghiên cứu có liên quan trƣớc đây. Chương 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng này trình bày cách thu thập dữ liệu, mô hình và cách xây dựng các biến. Chương 4: Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam.
Từ số liệu ở Chƣơng 3, Chƣơng 4 trình bày kết quả trong quá trình phân tích số liệu. Chương 5: Kết luận. Chƣơng 5 tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, hạn chế của đề tài và hƣớng nghiên cứu tiếp theo.Điểm mới của đề tài Bài nghiên cứu này khác với các nghiên cứu đã từng đƣợc thực hiện trƣớc đây ở thị trƣờng chứng khoán Việt Nam nhƣ nghiên cứu của Trịnh Nam Hai, 2013, Tác động của công bố thông tin SEO lên phản ứng giá cổ phiếu bằng chứng tại thị trƣờng chứng khoán Việt Nam ; Hạ Tấn Minh, 2013, Tác động của việc mua lại cổ phần lên giá cổ phiếu bằng chứng ở Việt Nam; và Trịnh Thị Minh Hoa, 2015, Phản ứng của giá cổ phiếu đối với thông báo mua lại cổ phần của các doanh nghiệp: bằng chứng tại Việt Nam ở điểm: các nghiên cứu trƣớc đây chỉ phân tích tác động của sự kiện đƣợc công bố lên giá trị của chính công ty công bố sự kiện, trong khi đó nghiên cứu này kiểm tra tác động của sự kiện đƣợc công bố lên các công ty đối thủ trong ngành hay nói cách khác là kiểm tra tác động lan tỏa thông tin từ một sự kiện đƣợc công bố đến các công ty đối thủ khác trong ngành. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.Tác động lan tỏa thông tin và phát hành cổ phần bổ sung Tác động lan tỏa thông tin Tác động lan tỏa thông tin (information spillover) còn đƣợc gọi là tác động lan tỏa thông tin nội ngành (intra-industry information spillover).
Theo Lang và Stulz (1992): “Tác động lan tỏa thông tin nội ngành đƣa ra giả thuyết rằng các nhà đầu tƣ sử dụng thông tin đƣợc công bố từ một công ty để đƣa ra những suy luận về các công ty cạnh tranh khác trong cùng một ngành.” Các sự kiện của công ty không chỉ tiết lộ thông tin về công ty công bố sự kiện mà còn báo hiệu một hiện tƣợng cho toàn ngành hay một sự thay đổi về cơ cấu cạnh tranh trong ngành. Một hiện tƣợng toàn ngành đƣợc dự đoán là sẽ gây ra tác động lây lan lên các công ty đối thủ trong ngành, trong khi những thay đổi trong vị thế cạnh tranh đang cân bằng của ngành đƣợc dự báo sẽ gây ra tác động cạnh tranh (tác động tiêu cực) lên các công ty đối thủ trong ngành. Do đó, tác động lan tỏa thông tin có hai loại là tác động lây lan (contagion effect) và tác động cạnh tranh (competitive effect). Khi thị trƣờng có phản ứng lên công ty đối thủ trong cùng ngành tƣơng tự nhƣ công ty xảy ra sự kiện hay còn gọi tắt là công ty sự kiện thì các công ty đối thủ này đang chịu tác động lây lan.
Ngƣợc lại, khi thị trƣờng phản ứng lên các công ty đối thủ trái ngƣợc với các công ty sự kiện thì các công ty đối thủ này đang chịu tác động cạnh tranh. Phát hành cổ phần bổ sung Theo tài liệu “Fundamentals of Investments” của nhóm tác giả Bradford Jordan, Thomas Miller và Steven Dolvin, “một công ty có cổ phần đã lƣu hành đại chúng, thì công ty đó có thể tiếp tục huy động vốn thông qua việc phát hành bổ sung, viết tắt là SEO (Seasoned equity offering). Thuật ngữ secondary và follow-on offering cũng là đề cập đến một đợt phát hành cổ phần bổ sung”.Lý thuyết định thời điểm thị trƣờng Từ những thập niên 90 trở lại đây, lý thuyết định thời điểm thị trƣờng xuất hiện nhƣ một hƣớng nghiên cứu mới trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp và đƣợc xếp vào một nhánh trong tài chính hành vi. Lý thuyết định thời điểm thị trƣờng thƣờng đƣợc dùng để giải thích cho hành vi các công ty phát hành cổ phần.
Lý thuyết định thời điểm thị trƣờng giả định rằng trên thị trƣờng tồn tại việc định giá sai, do đó các doanh nghiệp có thể tận dụng cơ hội từ việc định giá sai này. Trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, lý thuyết định thời điểm thị trƣờng xuất phát từ hiện tƣợng bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán. Hàm ý của lý thuyết này là các công ty đang đƣợc định giá cao thƣờng phát hành cổ phần, còn các công ty đang bị định giá thấp thƣờng mua lại cổ phần hoặc đợi đến lúc cổ phần đƣợc định giá cao hơn mới tiến hành phát hành cổ phần mới nhằm tìm kiếm lợi nhuận nhiều hơn từ dự án. Khi các công ty tiến hành phát hành cổ phần, các nhà đầu tƣ sẽ cho rằng công ty đang định thời điểm thị trƣờng và phát hành cổ phần với giá cao hơn giá trị thực.
Thị trƣờng nhìn nhận thông tin phát hành cổ phần bổ sung là một thông tin xấu và có phản ứng tiêu cực lên công ty. Do đó, khi công ty công bố phát hành cổ phần bổ sung thƣờng làm giá trị công ty sụt giảm. Các công ty đối thủ trong cùng ngành có đặc điểm tƣơng tự cũng có khả năng chịu tác động từ thị trƣờng. Nếu một công bố thông tin phát hành cổ phần không chỉ ảnh hƣởng lên chính công ty công bố thông tin mà còn ảnh hƣởng lên các công ty đối thủ khác trong cùng ngành sẽ gây ra tác động lan tỏa thông tin trong ngành đó.Các nghiên cứu liên quan và bằng chứng thực nghiệm 2.Một số nghiên cứu liên quan đến tác động lan tỏa thông tin Trên thế giới đã có nhiều tác giả thực hiện nghiên cứu về tác động lan tỏa thông tin trong nhiều lĩnh vực.
Những nghiên cứu này xem xét phản ứng của thị trƣờng đối với các công ty đối thủ khi các công ty cùng ngành có những động thái chiến lƣợc, đƣa ra các quyết định đầu tƣ hoặc khi các cú sốc vĩ mô xảy ra cho toàn ngành. Các nghiên cứu này kiểm tra tác động lan tỏa thông tin xung quanh các sự kiện của doanh nghiệp nhƣ phát hành cổ phần bổ sung, chia cổ tức, thông báo lợi nhuận, mua lại và sáp nhập. 7 Nghiên cứu của Hameed và cộng sự (2010) và Slovin và cộng sự (1992) đã tìm thấy bằng chứng về tác động lan tỏa thông tin từ một công ty đến các công ty đối thủ khác trong cùng ngành. Nghiên cứu của Hameed và cộng sự (2010) cho thấy khi có dự báo thu nhập về một công ty đứng đầu trong ngành sẽ tăng thì giá cổ phiếu của các công ty khác trong ngành cũng tăng.
Ngƣợc lại, nghiên cứu của Slovin và cộng sự (1992) chỉ ra rằng khi một ngân hàng công bố thông tin phát hành cổ phần bổ sung sẽ làm giá trị của các ngân hàng khác bị giảm. Hameed và cộng sự (2010) đã tìm thấy bằng chứng về tác động lan tỏa thông tin xuất phát từ các công ty “đầu đàn” (bellwether) trong ngành. Thuật ngữ “Bellwether” dùng để chỉ chứng khoán của các công ty đứng đầu trong ngành, gọi là chứng khoán “đầu đàn”. Những chứng khoán này đƣợc xem là kim chỉ nam cho chiều hƣớng của thị trƣờng.
Các nhà đầu tƣ tổ chức sở hữu rất nhiều chứng khoán này và có nhiều khả năng chi phối đƣợc cung cầu trên thị trƣờng. Các hoạt động mua bán của các tổ chức tài chính có khuynh hƣớng ảnh hƣởng đến các nhà đầu tƣ nhỏ lẻ và do đó ảnh hƣởng đến thị trƣờng nói chung. Trong nghiên cứu này tác giả định nghĩa các công ty “đầu đàn” là các công ty có nhiều chuyên gia thƣờng xuyên đánh giá phân tích tình hình hoạt động và có mối liên hệ nhiều về quy tắc hoạt động với các công ty khác trong cùng ngành (hoặc các công ty có ít hoặc không có chuyên gia phân tích). Tác giả tiến hành kiểm tra phản ứng của thị trƣờng lên giá chứng khoán của các công ty cùng ngành đối với các dự báo thu nhập hàng tháng của các chuyên gia về các công ty “đầu đàn” trên một mẫu gồm 140,619 quan sát công ty - năm trên thị trƣờng chứng khoán Mỹ giai đoạn từ 1984 đến 2011.
Tác giả xây dựng mô hình hồi quy để kiểm tra tác động của dự báo thu nhập hàng tháng của các chuyên gia cho các công ty “đầu đàn” lên tỷ suất sinh lợi của các công ty đối thủ cùng ngành. Nghiên cứu chỉ ra rằng khi các chuyên gia đƣa ra dự báo về thu nhập của các công ty “đầu đàn” vào hàng tháng, điều này sẽ gây ra tác động cùng chiều lên tỷ suất sinh lợi trong tƣơng lai của các công ty khác cùng ngành. Kết quả cho thấy EPS dự báo của các công ty đầu ngành này tăng lên 1% thì tỷ suất sinh lợi của các công ty khác trong cùng ngành cũng đƣợc dự đoán tăng 0. Tác động lan tỏa này là một chiều, 8 từ các công ty “đầu đàn” đến các công ty còn lại, nhƣng không tìm thấy bằng chứng về chiều tác động ngƣợc lại.
Những kết luận này hàm ý rằng các nhà đầu tƣ sử dụng dự báo của chuyên gia về chứng khoán của các công ty hàng đầu trong ngành để định giá cho chứng khoán của các công ty khác. Thêm nữa, nếu chi phí thông tin giảm, các nhà phân tích có thể mở rộng phạm vi theo dõi và cung cấp thông tin về nhiều công ty hơn, và làm giảm tác động lan tỏa thông tin. Slovin và cộng sự (1992) đã kiểm tra tác động của các công bố thông tin phát hành cổ phần bổ sung trong ngành ngân hàng giai đoạn 1975-1988 và các công ty hoạt động trong các ngành khác từ 1980-1985. Mẫu nghiên cứu gồm 17 ngân hàng với 16 công bố thông tin phát hành cổ phần và 211 công bố thông tin phát hành cổ phần từ các công ty trong các ngành khác.
Tác giả thu thập đƣợc 2,067 quan sát công ty đối thủ cho 211 sự kiện. Đối với các đợt phát hành cổ phần của các ngân hàng thƣơng mại, tác giả tìm thấy tác động lan tỏa thông tin có ý nghĩa thống kê làm giảm -0.6% giá trị của các ngân hàng thƣơng mại đối thủ.