phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc tổ chức thành 5 chƣơng với nội dung chính nhƣ sau: Chƣơng 1- tổng quan các nghiên cứu trƣớc có liên quan, xác định những nội dung nghiên cứu mà đề tài sẽ kế thừa và phát triển. Từ đó, tìm ra khe hổng nghiên cứu, xác định vấn đề nghiên cứu của đề tài. Chƣơng 2- tổng hợp và phân tích cơ sở lý thuyết về điều chỉnh lợi nhuận, các nhân tố có thể ảnh hƣởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi phát hành thêm cổ phiếu. Chƣơng 3- thiết kế nghiên cứu, chƣơng này xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và xác định phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng để đạt đƣợc các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.
Chƣơng 4- trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu. Kết quả về thực trạng điều chỉnh lợi nhuận và các nhân tố ảnh hƣởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi phát hành thêm cổ phiếu. Chƣơng 5- chƣơng này đƣa ra kết luận và gợi ý chính sách nhằm bảo vệ các bên có liên quan (nhà đầu tƣ, công ty niêm yết, Bộ Tài chính, cơ quan quản lý nhà nƣớc) thông qua việc nâng cao chất lƣợng chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC, đồng thời gợi mở hƣớng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chƣơng 1 giới thiệu về tổng quan các nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài, về hành vi điều chỉnh lợi nhuận và các nhân tố ảnh hƣởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết.
Từ đó đƣa ra khe hổng nghiên cứu, cho thấy đƣợc tính mới của bài nghiên cứu.1 Nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên thế giới 1.1 Điều chỉnh tăng lợi nhuận trƣớc khi phát hành thêm cổ phiếu Các nghiên cứu trên thế giới trong thời gian vừa qua đã cho thấy lợi nhuận bị điều chỉnh trƣớc thời điểm phát hành cổ phiếu lần đầu hoặc phát hành thêm cổ phiếu, nhằm làm cho nhà đầu tƣ có cái nhìn tích cực về tình hình tài chính của công ty, thuyết phục nhà đầu tƣ thực hiện đầu tƣ vào công ty. Ching và cộng sự (2002) tiến hành nghiên cứu những công ty phát hành thêm cổ phiếu từ năm 1993 đến 1998 dựa trên mô hình Modified Jones (1995). Dữ liệu về giá cổ phiếu và BCTC đƣợc lấy từ cơ sở dữ liệu Pacific-Basin Capital Markets. Tác giả sử dụng phƣơng pháp hồi quy bội để xem xét ảnh hƣởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận có ảnh hƣởng đến giá cổ phiếu của công ty.
Do đó các công ty phát hành thêm cổ phiếu có xu hƣớng dịch chuyển lợi nhuận của các năm sau sang năm trƣớc năm phát hành và hệ quả là lợi nhuận của các năm sau năm phát hành giảm đáng kể, và đặc biệt những công ty có quy mô HĐQT (Hội đồng quản trị) lớn thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng cao. Theo nghiên cứu của Rangan (1998) với 230 công ty Mỹ phát hành thêm cổ phiếu trong giai đoạn 1987- 1990. Bằng chứng cho rằng, những công ty này điều chỉnh tăng lợi nhuận trƣớc năm phát hành nhằm đáp ứng yêu cầu niêm yết của cơ quan quản lý nhà nƣớc. Nghiên cứu của Cohen và Zarowin (2010) sử dụng số mẫu 1511 công ty Mỹ phát hành thêm cổ phiếu thành công trong khoảng thời gian từ 1987 đến 2006.
Bài nghiên cứu đƣa ra hai khái niệm điều chỉnh lợi nhuận thông qua biến kế toán dồn tích và điều chỉnh lợi nhuận thông qua sự can thiệp vào các giao dịch thực. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý trong 6 trƣờng hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết, nhƣng chƣa cho thấy đƣợc nguyên nhân và biện pháp khắc phục nó. Theo nghiên cứu của Abdullah Iqbal và cộng sự (2012), dữ liệu đƣợc lấy từ 286 công ty phát hành thêm cổ phiếu từ tháng 1 năm 1991 đến tháng 12 năm 1995 của các công ty ngành công nghiệp niêm yết trên TTCK Lon don, Anh và dựa trên mô hình Modified Jones (1995). Bài nghiên cứu sử dụng hồi quy bội để xem xét mức độ điều chỉnh lợi nhuận và hiệu quả thị trƣờng trong dài hạn của các công ty phát hành thêm cổ phiếu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy bằng chứng của hành động điều chỉnh lợi nhuận trƣớc thời điểm phát hành thêm cổ phiếu, nhƣng sau thời điểm phát hành thì hiệu quả hoạt động và sản xuất kinh doanh có xu hƣớng giảm, bằng chứng cho thấy đó là lợi nhuận giảm sau thời điểm phát hành. Ở châu Á, Miller (2002) thực hiện nghiên cứu với 249 công ty Hàn Quốc nghiên cứu 249 công ty Hàn Quốc - đặt ra câu hỏi nghiên cứu rằng, có hay không việc các công ty phát hành thêm cổ phiếu điều chỉnh lợi nhuận trƣớc năm phát hành. Tác giả sử dụng phƣơng pháp phân tích tƣơng quan giữa lợi nhuận sau thuế và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại hành vi điều chỉnh lợi nhuận tăng ngay lập tức trƣớc và trong thời điểm phát hành, đặc biệt với những công ty có hoạt động sản xuất kinh doanh yếu kém thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng lớn.
Nghiên cứu của Daoping (Steven) He và cộng sự (2010) sử dụng dữ liệu của 542 công ty ở Nhật Bản phát hành thêm cổ phiếu trong khoảng thời gian từ năm 1977 đến 1999, sử dụng mô hình Modified Jones (1995) của Dechow và cộng sự (1995) để tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh đƣợc (biến này đại diện cho sự điều chỉnh lợi nhuận), đồng thời sử dụng mô hình hồi quy bội với biến kiểm soát là quy mô công ty và biến giả là biến năm phát hành để xem xét mức độ điều chỉnh lợi nhuận xung quanh thời điểm phát hành. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận quanh thời điểm phát hành. Tƣơng nhƣ vậy ở Trung Quốc là một trong những thị trƣờng vốn lớn của Châu Á. Aharony và cộng sự (2007) thu thập 83 công ty Trung Quốc phát hành thêm cổ phiếu trong thời gian 7 từ 1992 đến 1995.
Bằng chứng từ nghiên cứu cho thấy, lợi nhuận bị điều chỉnh trong khoảng thời gian trƣớc khi phát hành cổ phiếu. Tóm lại tất cả các nghiên cứu ở các nƣớc có TTCK phát triển ổn định (Anh, Mỹ…) đến các nƣớc có TTCK mới phát triển (Hàn Quốc, Trung Quốc…) đều có bằng chứng cho thấy tồn tại hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty niêm yết trong trƣờng hợp phát hành thêm cổ phiếu.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi phát hành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết. Hiện nay trên thế giới có nhiều nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận làm cho số liệu trên BCTC không trung thực, hợp lý làm ảnh hƣởng đến quyết định của nhà đầu tƣ. Bên cạnh đó, đề cập đến các nhân tố ảnh hƣởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý nhƣ là đặc điểm của doanh nghiệp: quy mô công ty, khả năng sinh lời, tính thanh khoản,…; quản trị công ty: HĐQT, ban kiểm soát, tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn … Nghiên cứu của Peasnell, Pope và Young (2004) thực hiện tại Anh từ ngày 30 tháng 6 năm 1993 đến ngày 31 tháng 5 năm 1996 dựa trên mô hình Modified Jones (1995).
Bằng chứng nghiên cứu cho thấy nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận để tránh báo cáo lỗ, tránh làm cho nhà đầu tƣ có cái nhìn không tốt về tình hình tài chính của công ty, từ đó ảnh hƣởng đến quá trình phát hành thêm cổ phiếu của doanh nghiệp. Bên cạnh đó mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng thấp khi mà tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành càng cao. Theo nghiên cứu của Syed Zulfiqar Ali Shah và cộng sự (2004) sử dụng dữ liệu của 654 công ty niêm yết trong trƣờng hợp phát hành thêm cổ phiếu trên TTCK Karachi, Pakistan trong thời gian từ 2003-2007, sử dụng mô hình Modified Jones (1995) và phƣơng pháp hồi quy bội với dữ liệu chéo. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sở hữu công ty đƣợc đại diện là các tổ chức có tƣơng quan nghịch với mức độ điều chỉnh lợi nhuận.
Zongjun Wang và cộng sự (2004) đã thu thập dữ liệu gồm 1.009 công ty niêm yết có phát hành thêm cổ phiếu từ 2002 đến 2006 tại Trung Quốc. Kết quả 8 nghiên cứu cho thấy sự kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc điều hành và mức độ điều chỉnh lợi nhuận có mối tƣơng quan thuận, bên cạnh đó nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ nữ trong tổng thành viên HĐQT càng lớn thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng thấp. Lim, Thong và Ding (2008) sử dụng mô hình Modified Jones (1995) để xem xét nhân tố quy mô và loại hình doanh nghiệp có ảnh hƣởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty niêm yết trong trƣờng hợp phát hành thêm cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy mô doanh nghiệp càng lớn thì hành vi điều chỉnh lợi nhuận càng cao.
Nghiên cứu của Guthrie và Sokolowsky (2010) xem xét mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu của cổ đông và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý trong trƣờng hợp doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu cho ta thấy có mối tác động cùng chiều giữa tỷ lệ sở hữu của những cổ đông lớn không nằm trong ban điều hành của công ty và hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận của nhà quản lý trong trƣờng hợp phát hành thêm cổ phiếu. Younes Badavar Nahandi và cộng sự (2011) thực hiện nghiên cứu trên 480 công ty niêm yết ở Iran từ năm 2001 đến năm 2008 về ảnh hƣởng của đặc điểm HĐQT đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong trƣờng hợp có phát hành thêm cổ phiếu, dựa trên mô hình Modified Jones (1995) và sử dụng phƣơng pháp hồi quy bội. Biến phụ thuộc của bài nghiên cứu là hành vi điều chỉnh lợi nhuận chịu sự tác động của các biến độc lập: quy mô HĐQT, số lƣợng thành viên HĐQT độc lập, một biến giả về sự kiêm nhiệm giữa chức danh tổng giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT.
Bằng chứng nghiên cứu cho thấy có mối tƣơng quan thuận giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và sự kiêm nhiệm giữa chức danh tổng giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT, và không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ tác động của các biến độc lập còn lại lên biến phụ thuộc. Tại TTCK Taiwan, Torng-Her Lee và cộng sự (2012) nghiên cứu sự ảnh hƣởng của từng nhân tố đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết có phát hành thêm cổ phiếu.