CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề cơ bản về hoạt động phát hành cổ phiếu theo Chương trình lựa chọn người lao động (ESOP) 3 1. Khái niệm của ESOP ESOP là một thuật ngữ tài chính, viết tắt của cụm từ Employee Stock Ownership Plan, tạm dịch là Chương trình người lao động sở hữu cổ phần.
Đây là một loại kế hoạch phúc lợi cho người lao động, khuyến khích người lao động có quyền sở hữu cổ phiếu, hay quyền làm chủ tại chính doanh nghiệp mình đang làm việc. Tại Việt Nam, áp dụng theo Thông tư số 162/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và các doanh nghiệp niêm yết, ESOP thường được gọi là “Phát hành cổ phiếu theo Chương trình lựa chọn người lao động”. Các doanh nghiệp tại Việt Nam không lập và trích quỹ để mua cổ phiếu quỹ khi thực hiện ESOP, mà sử dụng hình thức phát hành thêm với giá ưu đãi thấp hơn thị giá cho người lao động. Đây là cách thức các doanh nghiệp sử dụng để trao quyền sở hữu cho người lao động theo những tiêu chí nhất định.
Theo khái niệm của Viện Wealth Preservation (Mỹ) thì Chương trình người lao động sở hữu cổ phần được công nhận là phúc lợi mà chủ sở hữu doanh nghiệp trao cho người lao động theo Luật Bảo đảm thu nhập về hưu người lao động ERISA (Employee Retirement Income Security Act, 1974), Đạo luật giảm thuế (Tax Reduction Act, 1975) và các luật sau này. Theo đó, chủ sở hữu sẽ góp tiền mặt hoặc các tài sản khác (thường là cổ phiếu của doanh nghiệp) cho một quỹ kế hoạch phúc lợi (ESOP trust), quỹ này sẽ phân bổ cho những người lao động được tham gia chương trình ESOP, tức là những người lao động này có thể có quyền sở hữu trong doanh nghiệp mà không cần đầu tư bằng tiền của mình. Cũng giống như Mỹ, Anh cũng là một trong những nước đi đầu trên thế giới về chương trình ESOP, tuy nhiên về thuật ngữ sử dụng có một chút khác biệt (Employee Share Ownership Scheme). Về nguyên tắc, quyền sở hữu cổ phiếu ESOS sẽ mang lại cho nhân viên những quyền lợi mà họ mong đợi: quyền được chia sẻ lợi nhuận của doanh nghiệp, quyền được tiếp cận các thông tin về quy trình vận hành hoạt động cũng như các thông tin tài chính của doanh nghiệp và quyền tham gia quản lý doanh nghiệp (Rousseau và Shperling, 2003).
Các chương trình sở hữu cổ phần 4 được sử dụng rộng rãi từ những năm 1980, cho tới hiện tại thì các chương trình đang tồn tại dưới bốn hình thức sở hữu cổ phần sau: + Thưởng cổ phần (Share Incentive Plan - SIP) + Chương trình tiết kiệm từ thu nhập (Save as you earn - SAYE) + Quyền chọn cổ phần công ty (Company Share Option Plan - CSOP) + Khen thưởng quản lý doanh nghiệp (Enterprise Management Incentive - EMI) Chương trình sở hữu cổ phiếu cho người lao động được Chính phủ Nhật Bản khuyến khích thực hiện từ năm 1967. Do vậy, Nhật Bản là một quốc gia có tỷ lệ doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ESOP khá lớn. Ở đây chỉ tồn tại một hình thức sở hữu cổ phần cho nhân viên là ủy thác ESOS (hay còn gọi là mochikabukai) và sẽ không có ưu đãi về thuế cho các chương trình này. Theo tác giả, ESOP là một chương trình phát hành cổ phiếu với giá ưu đãi cho người lao động, trao cho họ quyền sở hữu doanh nghiệp dưới dạng cổ phiếu.
Các bên tham gia chương trình ESOP đều được hưởng quyền lợi tùy theo mục đích của từng cá nhân, tổ chức. Các chủ sở hữu thường sử dụng ESOP như một chiến lược tài chính nhằm hài hòa lợi ích của người lao động với cổ đông góp vốn. Bằng cách phát hành cổ phiếu ESOP, doanh nghiệp vừa có thêm một phương thức trao thưởng cho những người xứng đáng có đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp, vừa có thêm vốn để mở rộng đầu tư kinh doanh sản xuất, thu hút nhân tài, kích thích nhân viên cống hiến nhiều hơn trong công việc,. Còn người lao động khi tham gia chương trình cũng nhận được lợi ích về thuế so với phương thức nhận tiền mặt đối với khoản thưởng mình của mình.
Ở Việt Nam, cổ phiếu ESOP ở có sự khác biệt với thông lệ quốc tế. Như đã trình bày ở trên, các nước phát triển như Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) thường sử dụng phương pháp phát hành ESOP là doanh nghiệp sẽ thành lập một quỹ kế hoạch phúc lợi, nguồn hình thành nên quỹ đến từ cổ phiếu của doanh nghiệp hoặc tiền (tiền dùng để mua lại cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường theo thị giá). Quỹ ESOP này sẽ phân bổ cổ phiếu cho người lao động đạt đủ điều kiện được nhận. Từ góc độ của 5 cổ đông thì điều này sẽ không gây ra hiện tượng pha loãng cổ phiếu do doanh nghiệp không thực hiện các đợt phát hành mới.
Mặt khác còn tạo ra lượng cầu trên thị trường khi doanh nghiệp mua vào cổ phiếu đang lưu hành, sự khan hiếm cổ phiếu có thể ảnh hưởng tích cực tới giá cổ phiếu trên thị trường. Từ góc độ của doanh nghiệp thì những khoản đóng góp hình thành nên quỹ ESOP này sẽ được khấu trừ thuế ở một mức độ nhất định, do vậy có thể tiết kiệm được chi phí thuế. Hiện tại các doanh nghiệp tại Việt Nam chưa áp dụng phương pháp phát hành ESOP thông qua quỹ kế hoạch phúc lợi như đề cập phía trên. Việc phát hành cổ phiếu ESOP về bản chất tương tự như phát hành cổ phiếu cho cổ đông thông thường, tức là doanh nghiệp sẽ nhận được tiền từ hoạt động chào bán cổ phiếu ESOP và nguồn vốn của doanh nghiệp tăng lên một khoản tương ứng bằng số lượng cổ phiếu nhân với giá phát hành, mặc dù giá phát hành cổ phiếu ESOP thường thấp hơn giá phát hành cổ phiếu thông thường.
Đặc điểm của ESOP Phát hành cổ phiếu theo Chương trình lựa chọn người lao động thường có những đặc điểm sau: - Giá thực hiện ESOP là giá đã chiết khấu (giá thấp hơn giá trị thị trường tại thời điểm phát hành). Việc bán cổ phiếu với giá ưu đãi như một hình thức thưởng cho những người lao động đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp. - Bên cạnh việc được mua cổ phiếu giá ưu đãi thì cũng có một số điều kiện ràng buộc về thời gian chuyển nhượng (lock-up period). Người lao động được nhận cổ phiếu ESOP bị hạn chế chuyển nhượng tối thiểu 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt phát hành, thông thường là từ 01 đến 03 năm.
Điều này có thể dẫn đến nguy cơ giảm giá trị của gói thưởng do việc giới hạn chuyển nhượng sẽ đem lại nhiều rủi ro hơn cho người lao động khi giá cổ phiếu trên thị trường có những diễn biến bất ngờ. Trường hợp người lao động đang nắm giữ cổ phiếu ESOP nghỉ việc mà chưa hết thời hạn nắm giữ thì doanh nghiệp cam kết mua lại cổ phiếu với giá định trước, thường bằng giá vốn bán ra ban đầu. Thông thường một phương án phát hành ESOP sẽ có chu kỳ (ESOP cycle) như sau: Hình 1. Chu kỳ của một phương án phát hành ESOP Bán (sale the 6 shares) Trao quyền Thực hiện quyền Hưởng quyền (grant – receive (excercise the (vesing – earns the the right) right) right) Ngày trao quyền Công ty Được trao quyền Ngày thực hiện quyền Được thực hiện quyền Ngày hưởng quyền Được hưởng quyền Bán Bán cổ phiếu Nguồn: KPMG Việt Nam Chu kỳ ESOP thường sẽ giống nhau đối với các công ty, tuy nhiên các điều kiện hưởng quyền, thời gian hưởng quyền, hay một số điều kiện khác sẽ được điều chỉnh tùy vào mục tiêu và kế hoạch của công ty khi phát hành loại cổ phiếu này.
Mục đích cơ bản của ESOP được biết đến như là một phương thức thưởng cho nhân viên bằng cổ phiếu thay vì là thưởng bằng tiền. Vì cổ phiếu ESOP có kèm theo các điều kiện chuyển nhượng về thời gian nên chỉ những nhân viên làm việc hết khoảng thời gian quy định mới được hưởng khoản thưởng này, nên đây cũng được xem là một chính sách tốt để giữ chân nhân sự chủ chốt của công ty. Đồng thời, công cụ này đã gắn kết được lợi ích của nhân viên với kết quả hoạt động của doanh nghiệp khi nhân viên được xem là cổ đông của công ty, do đó nhân viên sẽ có động lực đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của công ty. Các hình thức tương tự ESOP Bên cạnh hình thức ESOP còn có những chương trình ưu đãi cổ phiếu khác cùng mục đích trao cơ hội cho người lao động sở hữu cổ phần thông qua các ưu đãi về giá hay điều kiện thanh toán, như là: Cổ phiếu thưởng - Bonus Stock, Quyền chọn mua cổ phần - Stock Option, Chương trình cổ phiếu ảo - Phantom Stock Plan.
Cổ phiếu thưởng - Bonus Stock. 7 Để ghi nhận các đóng góp của nhân viên, doanh nghiệp sẽ dùng cổ phiếu để thưởng cho người lao động thay vì thưởng bằng tiền. Nguồn cổ phiếu để thưởng có thể lấy từ cổ phiếu quỹ của doanh nghiệp. Tỷ lệ sở hữu của các cổ đông hiện hữu giảm xuống do chia sẻ tỷ lệ sở hữu với những người lao động được nhận cổ phiếu thưởng.
Đây là hình thức khuyến khích người lao động ít rủi ro hơn về phía người nhận cổ phiếu vì trong trường hợp này người lao động không phải bỏ tiền ra để mua cổ phiếu giá ưu đãi mà nhận cổ phiếu dưới dạng thưởng. Quyền chọn mua cổ phần - Stock Option Theo cách tiếp cận truyền thống, quyền chọn được phân loại như sau: - Quyền chọn mua (Call option): là hợp đồng quyền chọn cho phép người nắm giữ có quyền mua cổ phiếu (tài sản) vào một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá được xác định trước. - Quyền chọn bán (Put option): là hợp đồng quyền chọn, cho phép người nắm giữ có quyền bán cổ phiếu (tài sản) vào một thời điểm nhất định trong tương lai theo mức giá được xác định trước. Xét theo thời gian thực hiện, quyền chọn được phân loại như sau: - Quyền chọn kiểu Mỹ (American options): là loại quyền chọn cho phép người nắm giữ có thể thực hiện quyền tại bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn của hợp đồng quyền chọn.
- Quyền chọn kiểu Châu Âu (European options): là loại quyền chọn mà người nắm giữ chỉ có thể thực hiện quyền vào ngày đáo hạn hợp đồng. - Quyền chọn kiểu Châu Á (Asian options): là quyền chọn phụ thuộc vào giá trung bình của cổ phiếu (tài sản) đạt đến một tỉ lệ nhất định trong thời hạn của hợp đồng.