chương 1, luận văn đã trình bày khái quát vấn đề muốn tìm hiểu, những mục tiêu và những câu hỏi liên quan. Để tìm câu trả lời, chương 2 sẽ đưa ra những khái niệm, lý thuyết và tổng hợp kết quả của các nghiên cứu trước đó về những vấn đề có liên quan đến sở hữu trong doanh nghiệp cũng như hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp để từ đó làm căn cứ đưa ra mô hình nghiên cứu cho luận văn. Các khái niệm liên quan 2. Doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán là doanh nghiệp được phép đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán, Luật Doanh nghiệp (2014).
Theo Chương V, Luật Doanh nghiệp (2014), cơ quan tối cao của các công ty cổ phần là Đại hội đồng cổ đông. Các cổ đông sẽ tiến hành bầu ra Hội đồng quản trị với Chủ tịch Hội đồng quản trị, các Phó chủ tịch và thành viên (kiêm nhiệm và không kiêm nhiệm). Sau đó, Hội đồng quản trị sẽ tiến hành thuê, bổ nhiệm giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) và Giám đốc điều hành. Hội đồng này cũng có thể tiến hành thuê, bổ nhiệm các Phó giám đốc (Phó Tổng giám đốc) hoặc ủy quyền cho Ban giám đốc công ty làm việc này.
Brown và Caylor (2009), các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán là các doanh nghiệp cổ phần mà cổ phiếu của doanh nghiệp được phát hành rộng rãi ra công chúng và các cổ phiếu đó phải được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán uy tín. Các doanh nghiệp này phải đáp ứng các yêu cầu về về quy mô, công bố thông tin kịp thời đầy đủ theo quy định, hoạt động kinh doanh có hiệu quả trước khi niêm yết, có uy tín và minh bạch về thông tin. Ngoài ra, mô hình quản trị của các doanh nghiệp cổ phần Việt Nam khá giống với hầu hết các nền kinh tế mới nổi, với những đặc điểm như tỷ lệ cổ đông nội bộ lớn, thông tin công bố còn hạn chế, chưa đầy đủ và đôi khi còn cố tình làm sai lệch thông tin, chính sách bảo 10 vệ cổ đông thiểu số còn yếu. Vì thế, những doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán thường là các doanh nghiệp lớn, có uy tín và minh bạch về thông tin.
Việc được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán vừa là áp lực với doanh nghiệp vừa là động lực thúc đẩy doanh nghiệp ngày càng hoạt động hiệu quả hơn. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Theo Farrell (1957), hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những đầu ra đó. Theo đó, hiệu quả chi phí (cost efficiency) hay hiệu quả kinh tế (economic efficiency) bao gồm hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency) và hiệu quả phân bổ (allocative efficiency). Hiệu quả kỹ thuật thể hiện khả năng đơn vị có thể sản xuất tối đa bao nhiêu đầu ra với đầu vào cho trước.
Hiệu quả phân bổ phản ánh khả năng đơn vị sản xuất sử dụng các đầu vào theo tỷ lệ tối ưu khi đã biết giá cả của chúng. Hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó. Mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đơn giản là cố gắng tránh lãng phí, bằng cách đạt được đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc cực tiểu hoá sử dụng đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho. Trong trường hợp này khái niệm hiệu quả tương ứng với cái mà ta gọi là hiệu quả kỹ thuật (khả năng cực tiểu hoá sử dụng đầu vào để sản xuất một véc tơ đầu ra cho trước, hoặc khả năng thu được đầu ra cực đại từ một véc tơ đầu vào cho trước), và mục tiêu tránh lãng phí của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao.
Ở mức cao hơn, mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hoá doanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào và đầu ra sao cho cực đại hoá lợi nhuận. Trong các trường hợp này hiệu quả tương ứng được gọi là hiệu quả kinh tế (khả năng cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một mức 11 sản lượng nhất định), và mục tiêu của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệu quả kinh tế cao (tính theo các chỉ tiêu như chi phí, doanh thu hoặc lợi nhuận). Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông thường được đo luờng qua hai phương pháp chủ yếu là: phương pháp kế toán và phương pháp giá thị trường. Trong đó ROA (lợi nhuận ròng trên tổng tài sản), ROE (lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu) là những chỉ số tiêu biểu cho phương pháp kế toán, tỷ suất lợi nhuận phản ánh những số liệu trong quá khứ.
Chỉ số Tobin’s Q là thước đo theo phương pháp thị trường, phản ánh những kỳ vọng sẽ đạt được trong tương lai. Hiệu quả hoạt động được đo lường như sau: + Tobin’s Q Hệ số Tobin’s Q đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp theo phương pháp thị trường. Hệ số này được James Tobin phát triển vào năm 1969, Tobin cho rằng nếu thị trường đánh giá một doanh nghiệp cao hơn giá trị sổ sách của chính nó thì đó là tín hiệu thị truờng cho rằng doanh nghiệp này có triển vọng cao để phát triển. Nếu hệ số Tobin’s Q của doanh nghiệp lớn hơn 1 thì doanh nghiệp đó được các nhà đầu tư đánh giá cao là có nhiều cơ hội phát triển hơn nữa.
Ngược lại, nếu chỉ số Tobin’s Q nhỏ hơn 01, chứng tỏ thị trường cho rằng doanh nghiệp có ít cơ hội tăng trưởng, không có triển vọng cao. Tobin’s Q được đo lường qua tỷ số giữa giá trị thị trường của vốn cổ phần, tất cả khoản nợ và giá trị sổ sách của tài sản: Giá thị trường của vốn cổ phần + tổng nợ Tobin’s Q = (Q) Giá trị sổ sách của tổng tài sản 12 + ROA Theo Ross và các cộng sự (2005), tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số được xác định bằng cách lấy lợi nhuận ròng chia cho tổng tài sản bình quân. ROA cho biết bình quân mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận dành cho cổ đông.
Chỉ số này phụ thuộc chủ yếu vào kết quả kinh doanh trong kỳ và đặc điểm của từng ngành nghề. Lợi nhuận ròng Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản = x 100% Bình quân tổng tài sản + ROE Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu. Tỷ số này được tính bằng cách chia lợi nhuận ròng dành cho cổ đông cho bình quân giá trị vốn cổ phần phổ thông. ROE cho biết bình quân mỗi đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận dành cho cổ đông.
Lợi nhuận ròng Lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu = x 100% Bình quân vốn cổ phần phổ thông 2. Sở hữu cổ phần của Tổng giám đốc Theo Luật doanh nghiệp 2014, cổ đông (shareholder): là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần. Lê Văn Hưng (2007), cá nhân hay tổ chức sở hữu một lượng cổ phiếu được gọi là cổ đông, số lượng tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa, họ chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. 13 Cổ phần được chia thành hai loại: Cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi.
Cổ phần phổ thông được tham dự và phát biểu trong các đại hội cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được uỷ quyền, mỗi cổ phần phổ thông thì có một phiếu biểu quyết. Ngoài ra, người nắm giữ cổ phần phổ thông được quyền nhượng bán cổ phần theo luật định. Cổ phần ưu đãi được phân chia thành nhiều loại như: ưu đãi biểu quyết, ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại. Mỗi loại cổ phiếu ưu đãi đều có những đặc điểm khác nhau và tính chất khác nhau.
Để đo lường mức độ nắm giữ cổ phần của mỗi thành phần sở hữu trong doanh nghiệp ta dựa trên tỷ lệ sở hữu cổ phần của thành phần đó trong toàn bộ số cổ phần của doanh nghiệp. Tổng giám đốc (director general hay general director) được dùng để chỉ người điều hành cao nhất trong một doanh nghiệp. Một tổng giám đốc thì phải có kiến thức đa lĩnh vực, am hiểu nhiều vấn đề vì công việc hàng ngày đều phải giải quyết nhiều thứ chứ không chỉ có hoạt động kinh doanh. Ngoài kỹ năng kinh doanh, tổng giám đốc còn am hiểu các vấn đề liên quan đến các luật định, quản trị nhân sự, các vấn đề về Thuế, hành vi tổ chức, quản trị tài chính, kế toán,.
Tổng giám đốc có quyền nắm giữ một số lượng cổ phiếu trong doanh nghiệp, được hưởng chế độ như các cổ đông khác. Để đo lường mức độ nắm giữ cổ phần của Tổng giám đốc trong doanh nghiệp với phần vốn cổ phần phổ thông là số phần trăm cổ phần mà Tổng giám đốc đó đang nắm giữ với tổng số cổ phần của doanh nghiệp đang lưu hành. Tỷ số này đại diện cho phần vốn sở hữu của Tổng giám đốc trong doanh nghiệp. Số cổ phần mà TGĐ nắm giữ Tỷ lệ sở hữu cổ phần của TGĐ = x 100% Tổng số cổ phần phổ thông lưu hành 14 2.
Cơ sở lý thuyết Lập luận về mối quan hệ giữa sở hữu cổ phần của Tổng giám đốc và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được bắt nguồn từ các lý thuyết sau: 2. Lý thuyết đại diện (Agency theory) Lý thuyết đại diện là cơ sở lý thuyết quan trọng nhất, lý thuyết này giải thích mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu về lý thuyết này được Jensen và Meckling (1976) phát triển.