CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố tác động đến thị giá cổ phiếu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đối với biến động giá cổ phiếu. Nghiên cứu của Alzeaideen và Al - Rawash (2014) về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu khác nhau đến biến động giá cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Amman trên các lĩnh vực tài chính, công nghiệp và dịch vụ.
Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu, cơ chế quản trị doanh nghiệp được sử dụng trong các công ty và biến động giá cổ phiếu để cho thấy tác động của một biến số liên quan đến quản trị của công ty. Trong bài gồm bốn giả thuyết (cổ đông lớn nhất, sở hữu của năm cổ đông lớn nhất, cổ đông tổ chức và cổ đông cá nhân). Để kiểm tra từng giả thuyết, các tác giả đã xây dựng mô hình dựa trên các biến phụ thuộc để đo lường sự biến động giá cổ phiếu, bộ dữ liệu bao gồm 51 công ty ở Jordani từ năm 2005 đến 2009. Hai mô hình thực nghiệm được sử dụng là phương pháp bình quân nhỏ nhất (OLS) và bình quân tổng quát tối thiểu khả thi (SUR).
Kết quả đã chỉ ra rằng sử dụng phương pháp SUR cho thấy kết quả chính xác và tốt hơn so với phương pháp OLS. Kết quả từ bài nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng về mối quan hệ có ý nghĩa tích cực giữa các cổ đông lớn nhất và năm cổ đông lớn nhất đến biến động giá cổ phiếu. Điều này có thể được giải thích rằng trong các công ty được tổ chức chặt chẽ, cổ đông lớn có nhiều ưu đãi hơn để giám sát người quản lý, và giúp cho các chi phí quản lý trung gian giảm đi. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy rằng không có mối quan hệ đáng kể giữa cổ đông cá nhân và cổ đông tổ chức đến sự biến động của giá cổ phiếu, tức hai biến này không ảnh hưởng nhiều đến giá cổ phiếu.
Luận điểm này giúp các nhà quản lý và nhà đầu tư có cái nhìn sâu sắc về bản chất của cấu trúc sở hữu và cấu trúc quyền sở hữu của các công ty có ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro của các công ty và lợi nhuận của cổ phiếu. Ezazi và cộng sự (2011) đã có bài nghiên cứu “The Effect of Ownership Structure on Share Price Volatility of Listed Companies in Tehran Stock Exchange: An Empirical Evidence of Iran” phân tích tác động của các khía cạnh khác nhau của cấu trúc sở hữu như cổ đông cá nhân hoặc cổ đông tổ chức, cổ đông nội bộ hoặc cổ đông bên ngoài, sở hữu tập trung hay sở hữu phân tán đến biến động giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran. Các tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy, loại tương quan và sau khi tiến hành sàng lọc, họ đã chọn ra được 49 công ty phù hợp từ năm 2001 đến 2010. Trong nghiên cứu này, "cấu trúc sở hữu" được coi là biến độc lập và "biến động giá cổ phiếu" là biến phụ thuộc.
Kết quả nghiên cứu cho biết cổ 13 đông lớn nhất có nhiều tác động đến giá cổ phiếu và biến động giá cổ phiếu của các công ty có tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi các cổ đông cá nhân có ảnh hưởng ít hơn. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng các biến cổ đông lớn nhất, các cổ đông tổ chức và thành viên của hội đồng quản trị không có mối quan hệ nào đến biến động giá cổ phiếu. Năm 2008 đã diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu và nó cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường chứng khoán trên thế giới, trong đó có Thổ Nhĩ Kì. Chỉ số chứng khoán tại nước này đã giảm mạnh trong năm 2008, giảm đến hơn 50%, và còn tiếp diễn trong năm 2009.
Để nghiên cứu xem rằng cấu trúc sở hữu của công ty có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu thời kì khủng hoảng hay không, Sendurur and B. Nazlioglu đã có 2 bài viết về chủ đề này, một bài viết về ảnh hưởng trong thời kì khủng hoảng (năm 2012) và một bài viết về ảnh hưởng sau thời kì khủng hoảng (năm 2013). Hai bài nghiên cứu đều sử dụng dữ liệu của 62 công ty phi tài chính trong rổ ISE 100 đang giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) và sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính với 6 biến quyền sở hữu nội bộ, cổ đông lớn nhất, quyền sở hữu tập trung, quyền sở hữu phân tán, cổ đông nước ngoài, quyền kiểm soát gia đình. Nghiên cứu giai đoạn trong khủng hoảng cho thấy rằng tất cả các biến được đưa ra đều rất quan trọng để giải thích sự biến động của giá cổ phiếu.
Cụ thể, cổ đông lớn nhất, cổ đông sở hữu phân tán và cổ đông sở hữu tập trung có liên quan tiêu cực đến giá cổ phiếu, nhưng các công ty này có phần vượt trội hơn so với các công ty khác. Còn các công ty do gia đình kiểm soát thì ảnh hưởng đến giá cổ phiếu khác nhau theo từng giai đoạn. Ngược lại với giai đoạn trong khủng hoảng, các tác giả chỉ ra rằng 6 biến được đưa ra không ảnh hưởng nhiều đến giá cổ phiếu trong giai đoạn sau khủng hoảng. Cụ thể, quyền kiểm soát gia đình và quyền sở hữu tập trung có liên quan tích cực đến giá cổ phiếu, trong đó các công ty có cổ đông sở hữu tập trung nhiều sẽ vượt trội hơn so với các công ty gia đình kiểm soát.
Trong khi đó, quyền sở hữu phân tán, cổ đông lớn nhất, cổ đông nước ngoài và cổ đông nội bộ có tác động tiêu cực đến giá cổ phiếu, nhưng ảnh hưởng không đáng kể. Năm 2009, Brockman & Yan đã nghiên cứu xem xét tác động của quyền sở hữu đối với môi trường thông tin của công ty, dựa trên các thông tin niêm yết trên sàn chứng khoán Mỹ từ năm 1996 đến 2001. Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy hiệu quả giá cổ phiếu phụ thuộc vào chi phí có được thông tin cá nhân, cũng như độ chính xác của các thông tin này. Trong bài nghiên cứu của Brockman & Yan, 2 tác giả đã sử dụng 3 phương pháp: xác suất giao dịch được thông báo, biến riêng biệt và tính đồng bộ.
Các cổ đông lớn có một lợi thế rõ ràng so với các cổ đông cá nhân hay cổ đông sở hữu phân tán về độ chính xác và chi phí mua lại thông tin của công ty. Tác giả đưa ra giả thuyết rằng lợi thế thông tin này sẽ thể hiện chủ yếu ở thành phần sở hữu của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã đưa ra kết quả cổ đông lớn trong 14 công ty giúp cải thiện vấn đề quản trị công ty và gia tăng chất lượng của thông tin mà công ty công bố ra công chúng. Từ đó giúp các nhà đầu tư hiểu rõ và nắm được phương hướng chiến lược quản trị công ty, yên tâm tin tưởng tương lai của công ty và đầu tư vào công ty nhiều hơn, khiến giá cổ phiếu ít biến động đồng bộ với thị trường.
Nhìn chung, nghiên cứu này ủng hộ giả thuyết rằng cấu trúc sở hữu đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình môi trường thông tin của công ty. Mới đây, hai nhà nghiên cứu người Hàn Quốc, Park và Song (2018) đã có bài nghiên cứu “The Effect Of Ownership Structure On Future Stock Price Crash Risk: Korean Evidence” vào đầu năm 2018. Bài viết này xem xét ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đối với rủi ro sụp đổ giá cổ phiếu của công ty bằng cách sử dụng dữ liệu của các công ty niêm yết (KOSPI) tại Hàn Quốc. Các tác giả đưa ra giả thuyết rằng các nhà quản lý có thể dự trữ thông tin tiêu cực về công ty, nhưng khi tin tức xấu đó tích lũy vượt qua ngưỡng và đột nhiên được công khai sẽ dẫn đến sự cố rớt giá cổ phiếu mạnh.
So sánh với một số quốc gia tiên tiến về tài chính, nơi quyền sở hữu và quản lý được phân tách hiệu quả, không có sự phân biệt rõ ràng giữa sở hữu và quản lý tại Hàn Quốc. Các tác giả đã thu thập 4294 quan sát là doanh nghiệp trên thị trường Hàn Quốc từ năm 2002 đến năm 2015 và tiến hành kiểm tra phân tích theo tỷ lệ sở hữu của người quản lý và tỷ lệ sở hữu nước ngoài và dựa trên kinh nghiệm mối liên hệ giữa cơ cấu sở hữu doanh nghiệp và rủi ro sụp đổ giá cổ phiếu tiếp theo của các công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ sở hữu của người quản lý có liên quan tiêu cực đến rủi ro giảm giá cổ phiếu trong tương lai. Điều đó thể hiện quyền sở hữu của người quản lý tăng lên để gắn kết lợi ích của các cổ đông và người quản lý, nó có thể làm giảm bớt vấn đề trung gian giữa họ, giúp giải quyết sự bất cân xứng thông tin và ngăn chặn tin tức xấu bị giữ lại, cuối cùng làm giảm rủi ro giảm giá cổ phiếu trong tương lai.
Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy sở hữu nước ngoài cao hơn làm suy yếu đáng kể mối quan hệ tiêu cực giữa tỷ lệ sở hữu của người quản lý và rủi ro giảm giá cổ phiếu trong tương lai. Hou và các cộng sự (2012) đã nghiên cứu về một nhân tố trong cấu trúc sở hữu là sở hữu Nhà nước, xem xét tác động của nó đến giá cổ phiếu trong hoàn cảnh Trung Quốc đưa ra cải cách tái cấu trúc quyền sở hữu cổ phiếu. Nghiên cứu này lấy mẫu của các công ty Trung Quốc niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến, sử dụng các phương pháp mô hình hồi quy đa biến, hồi quy trung bình và mô hình thay thế. Cải cách này bãi bỏ các hạn chế giao dịch đối với cổ phiếu được nắm giữ chủ yếu bởi các cổ đông Nhà nước, giúp giảm xung đột lợi ích giữa hai nhóm cổ đông, Nhà nước và tư nhân, tăng cường nỗ lực chung của họ để đảm bảo các nhà quản lý tối đa hóa giá trị thị trường của công ty.
Thay đổi này dự kiến sẽ tăng cường các ưu đãi quản trị doanh nghiệp của các cổ đông Nhà nước và giảm sự 15 bất cân xứng thông tin trong các công ty niêm yết của Trung Quốc.