CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HQTC VÀ TÁC DONG CUA COVID DEN HỌTC CUA CÔNG TY NIEM YET 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu trong nước liên quan đến tác động của đại dịch Covid-19 đến HOTC e Các nghiên cứu trong nước liên quan đến tác động của Covid-19 đến HQTC của các CTNY trên thị trường chứng khoán: Sự xuất hiện của bóng mây đại dịch Covid từ đầu năm 2020 tưởng chừng rất nhanh có thể kiểm soát được như các đại dịch: cúm A, Sars,. sẽ chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn và không có tác động lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Thế nhưng, Covid-19 diễn ra và lan nhanh đã làm cho chuỗi cung toàn cầu ứng bị đứt gãy, phân mảng tram trọng, tác động lớn đến tat cả các khía cạnh của đời sống kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia trong đó có cả Việt Nam. Đã có những bài báo, bài nghiên cứu khoa học được viết ra đề nói về những tác động nặng nề của đại dịch như: - Nghiên cứu của nhóm tác giả Lê Văn Tuấn, Nguyễn Kim Quốc Trung và các cộng sự về “Các yếu tô tác động đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam” (2022).
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng (bình phương tối thiểu tổng quát khả thi - FGLS), đã xác định sáu yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của 80 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh từ 2009 đến 2019 (880 quan sát). Các nhân tố này mang ý nghĩa thống kê ở mức 5%, bao gồm: quy mô doanh nghiệp, độ tuôi, tỷ lệ đòn bây, tăng trưởng doanh thu, tổng sản phẩm quốc nội và tỷ lệ lạm phát. Đồng thời, mức độ tác động của các yêu t6 tác động đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp được ước lượng là khác nhau. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất một số hàm ý chính sách nhăm nâng cao hiệu quả tài chính tại các công ty niêm yết ở Việt Nam.
Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định như sau: (1) Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM, mà không tập trung vào một ngành nghề/ lĩnh vực cụ thé, nên các giải pháp và hàm ý chính sách còn mang tính chung chung. (2) Nghiên cứu chỉ đánh giá hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn Sở giao dịch chứng khoán TPHCM, mà chưa nghiên cứu trên Sản Giao dịch chứng khoán Hà Nội vì vậy sỐ lượng mẫu bị giới hạn. (3) Một sỐ nghiên cứu trước đây sử dụng mô hình mô ment tổng quát (GMM) dé giải quyết van dé nội sinh, thay vì sử dụng phương pháp FGLS nhằm tăng độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Nghiên cứu cần được thực hiện trên cả hai san Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM va Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội nhằm gia tăng số lượng cỡ mẫu, từ đó là cho kết quả hồi quy vững và không bị chệch.
- Bài nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Thùy Dương về “Ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến mối quan hệ giữa các đặc tính và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam” (2022). Trong nghiên cứu này tác giả muốn đưa ra kiểm định ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 lên mối quan hệ giữa các đặc tính và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ban lẻ tại Việt Nam để rút ra các bài học và khuyến nghị cho các doanh nghiệp. Dữ liệu nghiên cứu gồm các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phó Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Tác gia sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi quy với thời gian nghiên cứu từ quý 1 năm 2018 đến quý 3 năm 2021.
Kết quả thống kê mô tả cho biết trong suốt thời gian Covid-19, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu đều giảm; ngược lại, kỳ thu tiền bình quân tăng lên. Ngoài ra, kết quả phân tích hồi quy cũng cho thấy đại dịch đã làm thay đổi mối quan hệ giữa các đặc tính và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong khi quy mô van giữ tương quan dương, kỳ thu tiền bình quân và biến giả sản phẩm kinh doanh chuyền từ tương quan âm sang dương giữa hai giai đoạn, thì đòn bây lại không có mối quan hệ có ý nghĩa trong giai đoạn Covid-19. Tuy nhiên, bài nghiên cứu có hạn chế là chỉ sử dụng mẫu gồm các doanh nghiệp ngành bán lẻ niêm yết trên HOSE và HNX với thời gian nghiên cứu đến quý 3/2021.
Vì vậy, các nghiên cứu sau có thê mở rộng thời gian nghiên cứu và thực hiện ở các ngành nghé khác nhau dé có kết luận tổng quát hơn về ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. e Cac nghiên cứu trong nước liên quan đến tác động của Covid-19 đến các công ty ngành chế biến thủy sản: - Tác giả Nguyễn Minh Xuân Hương trong đề tài: “Tác động của đại dịch Covid-19 đến xuất khâu thủy sản Việt Nam” (2021). Bài viết đã phân tích và đánh giá thực trạng của ngành xuất khâu thủy sản tại Việt Nam dưới tác động của đại dịch Covid, cũng như đưa ra một số đề xuất cho ngành xuất khâu thủy sản Việt Nam dé có thé vượt qua đại dịch và tiếp tục phát triển bền vững. Bài nghiên cứu đã chi ra tầm quan trọng của ngành thủy sản: (1) do sự bùng nổ dân số thé giới cộng với hậu quả của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm đất canh tác trong nông nghiệp ngày càng thu hẹp; (2) diễn biến bất lợi của thiên nhiên, môi trường sông.sẽ làm cho lương thực thực phẩm là mặt hàng chiến lược trên thị trường thé giới, trong điều kiện đó sản phẩm thủy sản ngày càng chiếm vị trí quan trọng.
Vì vậy, việc phát triển ngành thủy sản tiếp tục là một trong những mục tiêu quan trọng trong xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Năm 2020, do diễn tiến của dịch bệnh phát triển mạnh mẽ, xuất khâu thủy sản Việt Nam không tránh khỏi sự sụt giảm về giá trị xuất khẩu, từ 8,58 tỷ USD năm 2019 xuống 8,41 tỷ USD, nhiều doanh nghiệp thủy sản bị ảnh hưởng, tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô.thậm chí giải thể, phá sản. Do giãn cách xã hội, tình hình dịch bệnh dẫn đến cung cầu về các mặt hàng thủy sản, vận chuyên, tiếp nhận khó khăn. Tác động của Covid-19 được thé hiện rất rõ với những mặt hàng có phân khúc thị trường cao như tôm him, ốc hương, cá sông, sản phẩm khai thác cá ngừ.
khi giá cả các mặt hàng này bị sụt giảm nghiêm trọng. Từ những tác động được đưa ra, tác giả đã đề xuất cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong ngắn hạn và dải hạn.2 Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến tác động của đại dịch Covid-19 gắn với HOTC “Nghiên cứu của Sunitha Devi, Ni Made Sindy Warasniasih và các cộng sự trong bài nghiên cứu “The Impact of COVID-19 Pandemic on the Financial Performance of Firms on the Indonesia Stock Exchange” (2020) nói về: Tác động của đại dịch Covid-19 đối với hoạt động tài chính của các công ty trên thị trường chứng khoán Indonesia. Bài nghiên cứu đưa ra kết quả kiểm tra tác động của đại dịch Covid-19 về hiệu quả tài chính của các công ty được liệt kê ở Sở giao dịch chứng khoán Indonesia. Các mẫu nghiên cứu bao gồm 214 công ty, được chia theo tỷ lệ thành 09 ngành hoặc 49 phân ngành.
Số lượng mẫu được xác định băng cách sử dụng phương pháp thống kê với tỷ lệ lỗi được sử dụng là 5%, với độ tin cậy của mẫu là 95%. Tác giả đo tác động của Covid thông qua chi số thanh khoản bằng tỷ số khả năng thanh toán hiện hành, chỉ số hiệu quả hoạt động đo lường bang tỷ lệ vòng quay khoản phải thu khách hang; chỉ số đòn bẩy tài chính thông qua đo lường tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu; chỉ số khả năng sinh lời thông qua ROA. Kết quả cho thay tỷ lệ đòn bây hoạt động và ty lệ hoạt động tăng lên, nhưng lại giảm tỷ lệ thanh khoản và tỷ suất sinh lời. Không có sự khác biệt đáng kê về tỷ lệ thanh khoản và tỷ lệ đòn bay, nhưng có sự khác biệt đáng ké về tỷ suất sinh lời và tỷ lệ hoạt động trong các công ty đại chúng giữa trước và trong đại dịch COVID-19.
” Nghiên cứu của Osama Fayez Atayah, Mohamed MahJoub Dhiaf trong bài nghiên cứu “ Impact of COVID-19 on financial performance of logistics firms: evidence from G-20 countries” (2021) nói đến tác động của Covid-19 đối với hoạt động tài chính của các công ty logistics: bằng chứng từ các nước G-20. Nghiên cứu điều tra mối quan hệ qua lại giữa hoạt động tài chính của các công ty logistics niêm yết và Covid-19; so sánh hiệu quả tài chính của các công ty logistics ở các nước G- 20 trong thời kỳ đại dịch. Bài báo này tập hợp quý đầu tiên từ năm 2010 cho đến quý cuối cùng của năm 2020 làm mẫu nghiên cứu dé xem xét tác động của đại dịch đối với hoạt động tài chính. Kết quả cho thấy hiệu quả tài chính của các công ty logistic đã cao hơn đáng kể trong năm 2020.
Nhìn chung, các phát hiện của các quốc gia đã được chứng thực với các kết quả chính và hiệu quả tài chính của 14 công ty logistic trong số 20 công ty được phân tích đã được cải thiện đáng kê, trong quá trình thời kỳ đại dịch. Tuy nhiên, bài báo này đã phát hiện ra hoạt động tải chính tiêu cực của các công ty hậu cân trong giai đoạn Covid-19 ở sáu quôc gia (Đức, Hàn Quốc, Nga, Mexico, Ả Rập Xê-út và Anh), những quốc gia ủng hộ đề xuất thứ hai. Kết quả của nghiên cứu rất quan trọng vì chúng nêu bật vai trò của các công ty hậu cần trong việc cung cấp thông tin chỉ tiết cho các học giả, các nhà thực hành, các nhà hoạch định chính sách và các bên liên quan của các công ty hậu cần. Đối với nghiên cứu trong tương lai, bài báo này đề xuất bao gồm một số biến số khác có thể ảnh hưởng đến hoạt động của công ty và chưa được xem xét trong nghiên cứu nay, đây là một han chế và đi sâu hơn vào lĩnh vực hậu cần bang cach so sánh hiệu quả tài chính của các phân ngành.