Tổng quan nghiên cứu

Đại dịch COVID-19 bùng phát từ cuối năm 2019 và nhanh chóng được Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố là tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu vào ngày 30 tháng 1 năm 2020, trước khi chính thức nâng lên mức đại dịch toàn cầu vào ngày 11 tháng 3 năm 2020. Cuộc khủng hoảng y tế quy mô lớn này đã ghi nhận hơn 24 triệu ca nhiễm và 820 nghìn ca tử vong chỉ trong 8 tháng đầu năm 2020, tạo ra một cú sốc ngoại sinh nghiêm trọng làm tê liệt chuỗi cung ứng và thương mại quốc tế. Theo báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, các nhà đầu tư đã rút hơn 100 tỷ USD vốn danh mục khỏi các thị trường đang phát triển, trong khi Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển dự báo dòng vốn đầu tư trực tiếp toàn cầu sụt giảm khoảng 40% trong giai đoạn 2020-2021.

Trước bối cảnh biến động kinh tế sâu rộng, vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là đánh giá tác động thực nghiệm của đại dịch COVID-19 đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài tại khu vực Châu Á. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm việc xác định chiều hướng tác động của đại dịch đến cả dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, đồng thời so sánh mức độ tổn thương giữa nhóm quốc gia phát triển và nhóm quốc gia đang phát triển. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu chuỗi thời gian theo quý từ Quý 1 năm 2013 đến Quý 1 năm 2022 tại 08 quốc gia Châu Á gồm Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở định lượng vững chắc cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế. Đặc biệt tại Việt Nam, dù nền kinh tế duy trì mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội dương đạt 2,91% trong năm 2020, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 7 tháng đầu năm 2021 vẫn giảm gần 11% so với cùng kỳ. Kết quả nghiên cứu là nền tảng quan trọng giúp xây dựng các chiến lược hồi phục và tối ưu hóa việc thu hút nguồn vốn quốc tế hậu đại dịch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết kinh tế và tài chính quốc tế nền tảng để giải thích sự chuyển dịch của dòng vốn đầu tư. Cụ thể, Lý thuyết hai khoảng cách của Chenery và Adelman năm 1966 khẳng định vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò bù đắp khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư cũng như thâm hụt ngoại hối tại các nước đang phát triển. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Balasubramanyam và cộng sự năm 1996 tiếp tục củng cố luận điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài là động lực thúc đẩy tăng trưởng thông qua chuyển giao công nghệ và nâng cao năng suất lao động. Đối với dòng vốn gián tiếp, Lý thuyết phân khúc thị trường vốn cổ phần của Stulz năm 1995 chỉ ra rằng sự tham gia của các nhà đầu tư quốc tế giúp chia sẻ rủi ro, cải thiện thanh khoản và tối ưu hóa chi phí vốn.

Các khái niệm chính được chuẩn hóa và đo lường chặt chẽ trong mô hình:

  • Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Theo Khoản 2, Điều 3 Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam, đây là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền hoặc tài sản để tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh, phân loại thành dòng vốn theo chiều ngang nhằm tìm kiếm thị trường và dòng vốn theo chiều dọc nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng.
  • Đầu tư gián tiếp nước ngoài: Hình thức đầu tư quốc tế thông qua mua cổ phần, trái phiếu hoặc công cụ nợ mà không trực tiếp tham gia quản lý điều hành doanh nghiệp.
  • Đại dịch COVID-19: Cú sốc y tế ngoại sinh được đại diện bằng biến giả nhận giá trị 0 cho giai đoạn trước dịch và giá trị 1 cho giai đoạn bùng phát dịch.
  • Các biến kiểm soát vĩ mô: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội đo lường sức khỏe nền kinh tế theo Hệ thống Tài khoản Quốc gia 1993, Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh lạm phát dựa trên lý thuyết chi phí sinh hoạt, cùng Tổng kim ngạch xuất khẩu giá FOB theo Luật Thương mại 2005 và Tổng kim ngạch nhập khẩu giá CIF.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu bảng cân bằng với tổng số 296 quan sát, thu thập theo tần suất quý trong suốt 37 quý từ Quý 1 năm 2013 đến Quý 1 năm 2022. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích tập trung vào 08 quốc gia Châu Á có dữ liệu công bố minh bạch và đầy đủ từ hai nguồn dữ liệu uy tín là World Bank và hệ thống Thomson Reuters Eikon. Mẫu nghiên cứu được phân chia thành hai nhóm riêng biệt: Nhóm 4 quốc gia công nghiệp phát triển gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc và Nhóm 4 quốc gia đang phát triển có nền kinh tế ổn định gồm Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia.

Quy trình phân tích định lượng được thực hiện qua nhiều bước kiểm định chặt chẽ bằng phần mềm Stata:

  • Bước đầu tiên là phân tích thống kê mô tả nhằm kiểm tra các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của từng biến số.
  • Bước thứ hai là phân tích ma trận hệ số tương quan Pearson kết hợp kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến thông qua hệ số phương sai phóng đại VIF để loại trừ nguy cơ sai lệch biến.
  • Bước thứ ba là ước lượng mô hình hồi quy đa biến lần lượt qua các phương pháp: Hồi quy gộp Pooled OLS, Mô hình tác động cố định FEM và Mô hình tác động ngẫu nhiên REM.
  • Lý do lựa chọn mô hình: Kiểm định Chow được áp dụng để lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM, trong khi Kiểm định Hausman được sử dụng để xác định sự phù hợp giữa FEM và REM. Cuối cùng, phương pháp Hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát GLS được lựa chọn làm mô hình tối ưu để khắc phục triệt để các khiếm khuyết về hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, mang lại các ước lượng không chệch và có độ tin cậy thống kê cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích hồi quy thực nghiệm trên dữ liệu bảng 08 quốc gia Châu Á mang lại bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, đại dịch COVID-19 tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khi đại dịch bùng phát, các biện pháp phong tỏa biên giới và giãn cách xã hội đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng khu vực, khiến các tập đoàn đa quốc gia trì hoãn việc mở rộng dự án và giảm quy mô giải ngân vốn mới. Dữ liệu thực tế cho thấy trong năm 2020, dòng vốn đầu tư trực tiếp vào Singapore giảm 22% và Indonesia giảm 24%.

Thứ hai, đại dịch COVID-19 tạo ra cú sốc suy giảm nghiêm trọng đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Thị trường chứng khoán tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư phản ứng tiêu cực trước sự gia tăng rủi ro y tế. Điển hình trong Quý 1 năm 2020, chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam sụt giảm 29,3% từ mức 936,6 điểm xuống 662,5 điểm, trong khi chỉ số chứng khoán Malaysia giảm 11,8% từ 1513,1 điểm xuống 1350,9 điểm do làn sóng rút vốn danh mục ồ ạt của các nhà đầu tư quốc tế.

Thứ ba, mức độ ảnh hưởng của đại dịch có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm nền kinh tế. Nhóm các quốc gia đang phát triển gồm Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Malaysia chịu sự sụt giảm dòng vốn đầu tư nước ngoài mạnh hơn khoảng 15% đến 20% so với nhóm các quốc gia phát triển. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc các nền kinh tế đang phát triển có mức độ phụ thuộc lớn vào vốn ngoại nhưng dư địa tài khóa và hệ thống an sinh y tế còn hạn chế.

Thứ tư, các biến kiểm soát kinh tế vĩ mô gồm tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu đều thể hiện mối tương quan dương có ý nghĩa với dòng vốn đầu tư nước ngoài, trong khi chỉ số giá tiêu dùng thể hiện tác động tiêu cực đến khả năng thu hút vốn.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm từ luận văn hoàn toàn tương thích và củng cố các nghiên cứu quốc tế trước đây của Fang và cộng sự năm 2021, Fu và cộng sự năm 2021 cũng như nghiên cứu của Bổn và cộng sự năm 2022 tại Việt Nam. Về mặt bản chất kinh tế, khủng hoảng y tế làm gia tăng chi phí giao dịch, đóng băng hoạt động thương mại và gây đứt gãy hậu cần toàn cầu, buộc các nhà đầu tư phải đánh giá lại danh mục rủi ro. Đối với dòng vốn gián tiếp, tính thanh khoản suy giảm và tâm lý bán tháo tài sản ngắn hạn tại các thị trường mới nổi diễn ra nhanh chóng, phù hợp với bằng chứng thực nghiệm của Ashraf năm 2020 trên 64 quốc gia.

Về phương diện trình bày trực quan, các kết quả nghiên cứu này có thể được biểu diễn một cách tối ưu thông qua bảng tổng hợp so sánh hệ số hồi quy của mô hình OLS, FEM và GLS nhằm làm nổi bật sự vượt trội của phương pháp ước lượng không chệch. Đồng thời, một biểu đồ đường chuỗi thời gian thể hiện biến động dòng vốn đầu tư giai đoạn 2013-2022 sẽ mô tả rõ nét điểm gãy cấu trúc tại thời điểm Quý 1 năm 2020. Bên cạnh đó, việc kết hợp biểu đồ cột phân nhóm so sánh tỷ lệ co hẹp dòng vốn giữa nhóm 4 nước đang phát triển và nhóm 4 nước phát triển sẽ giúp người đọc hình dung trực quan về mức độ dễ bị tổn thương của các nền kinh tế mới nổi trước các cú sốc ngoại sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn hậu đại dịch:

Thứ nhất, cải cách triệt để thủ tục hành chính và số hóa môi trường đầu tư. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các cơ quan quản lý triển khai quy trình thẩm định hồ sơ trực tuyến cấp độ 4, đặt mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục cấp phép đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn 2024-2025, phấn đấu nâng tốc độ giải ngân vốn đầu tư thực hiện tăng trưởng từ 10% đến 15% mỗi năm.

Thứ hai, hiện đại hóa hạ tầng logistics và phát triển các khu công nghiệp sinh thái. Bộ Giao thông Vận tải cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đẩy nhanh tiến độ các tuyến đường cao tốc trục Bắc - Nam và nâng cấp hệ thống cảng biển nước sâu, hướng tới mục tiêu hạ chi phí logistics quốc gia từ mức hiện tại xuống dưới 14% tổng sản phẩm quốc nội vào năm 2026, tạo sức hấp dẫn cạnh tranh vượt trội cho các dự án sản xuất công nghệ cao.

Thứ ba, nâng hạng thị trường chứng khoán và gia tăng tính minh bạch thông tin tài chính. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính cần vận hành ổn định hệ thống công nghệ thông tin thị trường mới, áp dụng bắt buộc Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế IFRS cho 100% doanh nghiệp niêm yết quy mô lớn trước năm 2026, nhằm đáp ứng các tiêu chí nâng hạng lên thị trường mới nổi, kỳ vọng thu hút thêm 5 tỷ USD dòng vốn gián tiếp trung và dài hạn.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế có chọn lọc thích ứng với chuỗi giá trị toàn cầu. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần ban hành cơ chế hỗ trợ tài chính đặc thù cho các tập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực vi mạch bán dẫn, năng lượng xanh và trí tuệ nhân tạo, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng các dự án đầu tư trực tiếp công nghệ cao chiếm trên 40% tổng vốn đầu tư đăng ký mới trong giai đoạn 2025-2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ương và Ngân hàng Nhà nước: Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm giá trị giúp các nhà quản lý xây dựng kịch bản điều hành kinh tế vĩ mô, dự báo các biến động của dòng vốn ngoại và thiết kế các gói kích thích tài khóa linh hoạt khi xảy ra các cuộc khủng hoảng y tế hoặc tài chính bất ngờ.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Công trình là nguồn tài liệu học thuật chuẩn mực về quy trình hồi quy dữ liệu bảng nâng cao, cung cấp phương pháp chi tiết trong việc xử lý khuyết tật phương sai thay đổi và tự tương quan bằng mô hình GLS trên bộ dữ liệu 296 quan sát của 8 quốc gia.

Thứ ba, lãnh đạo các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp sản xuất trong nước: Dữ liệu phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn giúp các nhà quản trị doanh nghiệp chủ động định vị năng lực cạnh tranh, nắm bắt cơ hội liên doanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Thứ tư, các quỹ đầu tư tài chính và công ty quản lý quỹ quốc tế: Báo cáo cung cấp góc nhìn sâu sắc về độ nhạy cảm của dòng vốn danh mục và thị trường chứng khoán khu vực Châu Á, giúp các nhà quản lý quỹ tối ưu hóa chiến lược phân bổ tài sản và quản trị rủi ro thanh khoản trước các biến cố kinh tế vĩ mô.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao nghiên cứu sử dụng biến giả đại diện cho COVID-19 thay vì số ca nhiễm bệnh thực tế? Trả lời: Khung thời gian nghiên cứu kéo dài 37 quý từ năm 2013 đến năm 2022, trong đó có 7 năm hoàn toàn không có dịch bệnh. Việc sử dụng biến giả nhận giá trị 0 cho giai đoạn trước đại dịch và giá trị 1 cho giai đoạn bùng phát dịch phản ánh chính xác cú sốc gãy cấu trúc ngoại sinh mà không gây nhiễu thống kê do chuỗi dữ liệu số ca nhiễm bị bằng 0 kéo dài.

Câu hỏi 2: Tại sao dòng vốn đầu tư vào các nước đang phát triển chịu tác động tiêu cực mạnh hơn các nước phát triển? Trả lời: Các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam hay Indonesia phụ thuộc lớn vào vốn đầu tư nước ngoài để bù đắp thiếu hụt vốn nội địa. Khi đại dịch xảy ra, các ngành sản xuất thâm dụng lao động bị đình trệ nghiêm trọng, khiến dòng vốn vào nhóm nước này sụt giảm sâu hơn khoảng 15% đến 20% so với nhóm nước có tiềm lực tài chính dồi dào.

Câu hỏi 3: Phương pháp hồi quy GLS mang lại ưu điểm gì vượt trội so với mô hình OLS và FEM thông thường? Trả lời: Trong phân tích dữ liệu bảng gồm 8 quốc gia, mô hình thường mắc phải hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát GLS cho phép điều chỉnh triệt để các sai số này, đảm bảo các hệ số hồi quy ước lượng được có độ chính xác cao và đạt mức ý nghĩa thống kê 1%.

Câu hỏi 4: Đại dịch COVID-19 tác động như thế nào đến thị trường chứng khoán và dòng vốn gián tiếp nước ngoài? Trả lời: Dòng vốn gián tiếp phản ứng nhạy bén và tức thì với rủi ro thị trường. Điển hình trong Quý 1 năm 2020, tâm lý lo ngại rủi ro đã kích hoạt làn sóng thoái vốn trên diện rộng, khiến chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam giảm mạnh 29,3% và thị trường Malaysia giảm 11,8%, làm suy giảm nghiêm trọng thanh khoản thị trường.

Câu hỏi 5: Bài học kinh nghiệm then chốt nào được rút ra cho Việt Nam trong chiến lược thu hút vốn ngoại sau đại dịch? Trả lời: Việt Nam cần chuyển đổi mạnh mẽ từ thu hút vốn dựa trên lao động giá rẻ sang các ngành công nghệ cao, bán dẫn và trung tâm dữ liệu. Đồng thời, việc nâng cao năng lực nội tại của hạ tầng logistics và chuẩn hóa thị trường tài chính theo thông lệ quốc tế là điều kiện tiên quyết để giữ chân dòng vốn ngoại ổn định.

Kết luận

  • Luận văn xác nhận thực nghiệm rằng đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực, ngược chiều và có ý nghĩa thống kê vững chắc đến cả dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại 08 quốc gia khu vực Châu Á trong giai đoạn 37 quý từ năm 2013 đến năm 2022.
  • Nghiên cứu chứng minh rõ nét sự phân hóa mức độ tổn thương, trong đó các quốc gia đang phát triển với tiềm lực kinh tế hạn chế chịu mức độ sụt giảm dòng vốn đầu tư nặng nề hơn so với nhóm các quốc gia công nghiệp phát triển.
  • Mô hình lượng hóa thành công mối quan hệ cùng chiều giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế, kim ngạch xuất nhập khẩu với dòng vốn đầu tư nước ngoài, khẳng định vai trò trụ cột của sự ổn định kinh tế vĩ mô trong việc thu hút vốn quốc tế.
  • Đóng góp học thuật nổi bật của đề tài là việc ứng dụng thành công phương pháp ước lượng GLS trên mẫu dữ liệu bảng 296 quan sát, giải quyết toàn diện các khuyết tật mô hình và bù đắp khoảng trống nghiên cứu về tác động của khủng hoảng y tế tại Việt Nam.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược với lộ trình cụ thể từ năm 2024 đến năm 2030 cung cấp định hướng hành động thiết thực cho các cơ quan quản lý trong việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng hạng thị trường tài chính và thích ứng bền vững trước các biến cố kinh tế toàn cầu trong tương lai.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm có thể khai thác sâu hơn hệ thống số liệu định lượng chi tiết trong toàn văn công trình nghiên cứu để ứng dụng hiệu quả vào công tác dự báo kinh tế vĩ mô và hoạch định chính sách thu hút đầu tư ngay hôm nay.