CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH KHOAN HỒNG 1. Khái quát về chính sách khoan hồng 1. Khái niệm chính sách khoan hồng “Khoan hồng” (Leniency) là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong nhiều hệ thống pháp luật và nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, nhưng với ngữ nghĩa tương tự nhau. Theo từ điển Cambridge, “Khoan hồng” (Leniency) được hiểu là “sự đối xử mà trong đó một người sẽ bị trừng phạt hoặc xét xử theo hướng ít nghiêm trọng hoặc ít khắt khe hơn so với kỳ vọng ban đầu1”.
Theo pháp luật của Liên minh châu Âu, khoan hồng được hiểu là việc giảm tiền phạt. Theo pháp luật của Hoa Kỳ, “Khoan hồng được hiểu là không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi được khai báo”2. Ở những nơi khác, thì khoan hồng có thể được xem xét ở khía cạnh miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc miễn trách nhiệm bồi thường của các cá nhân3. Nhìn chung, quy định pháp luật các quốc gia đều có cách hiểu thống nhất đối với thuật ngữ khoan hồng và do đó cũng có cùng cách hiểu về CSKH.
CSKH trong PLCT là thuật ngữ chung dùng để mô tả một cơ chế miễn một phần hoặc toàn bộ mức phạt áp dụng cho thành viên của TTHCCT khi họ khai báo và cung cấp thông tin hoặc chứng cứ liên quan đến thỏa thuận cho cơ quan QLCT4. Vì có liên quan trực tiếp đến việc ân xá trách nhiệm hình sự hoặc miễn giảm các trách nhiệm pháp lý khác nên khi đề cập đến các CSKH, ngoài thuật ngữ “CSKH” (Leniency Policy), các nhà phân tích còn sử dụng thuật ngữ “Chính sách ân xá” (Amnesty policy) hay “Chính sách miễn giảm” (Immunity policy). Việc khoan hồng, ân xá hay miễn giảm trong CSKH để chỉ chung cho việc miễn hoặc giảm mức phạt cho hành vi vi phạm quy định về TTHCCT, trong đó “miễn mức phạt” để chỉ việc miễn hoàn toàn mức phạt, và “giảm mức phạt” để chỉ việc giảm một phần mức phạt xuống thấp hơn mức độ miễn mức phạt. “Khoan hồng” hay “miễn giảm” trong CSKH khác hoàn toàn với quy định về các trường hợp “miễn trừ” đối với các 1 Nguyên văn: “treatment in which someone is punished or judged less strongly or severely than would be expected”.
2 DOJ Hoa Kỳ (1993), Corporate leniency policy, nguồn: https://www.gov/atr/corporate -leniency- policy , truy cập ngày 15/03/2019 3 OECD (2002), Fighting Hard Core Cartels: Harm, Effective Sanctions and Leniency Programmes, tr. 7; nguồn: https://www.org/competition/cartels/1841891.pdf , truy cập ngày 15/03/2019. 4 International Conpetition Network (2014), Drafting and implementing an effective leniency policy, Anti- cartel Enforcement Manual, tr. 4 8 TTHCCT bị cấm ở chỗ các trường hợp miễn trừ vẫn chấp nhận sự tồn tại của thỏa thuận đáp ứng được một số điều kiện thiết yếu để duy trì mục đích chính đáng của thỏa thuận và/hoặc không đủ sức để tạo ra sự hạn chế cạnh tranh đáng kể đối với thị trường sản phẩm liên quan, trong khi đó việc miễn giảm theo CSKH luôn gắn liền với điều kiện bắt buộc phải chấm dứt các thỏa thuận liên quan5.
Việc miễn giảm hình phạt trong CSKH có thể là miễn giảm tiền phạt hoặc miễn giảm trách nhiệm hình sự kèm theo các điều kiện nhất định, đó có thể là điều kiện gắn liền với nhân thân của chủ thể vi phạm (Như điều kiện về tuổi tác, năng lực hành vi, hoàn cảnh gia đình,…), cũng có thể là điều kiện do chủ thể vi phạm chủ động tạo ra bằng các hành vi của mình (Người thực hiện hành vi vi phạm ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại do hành vi vi phạm gây ra, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra hành vi vi phạm,…). Tùy vào mục đích của CSKH và khung pháp lý quy định chế tài đối với từng nhóm hành vi vi phạm liên quan mà chính sách miễn giảm hình phạt cũng như điều kiện áp dụng (tức là CSKH) trong các lĩnh vực pháp luật khác nhau cũng ít nhiều có sự khác biệt. Trong Pháp luật Chống độc quyền hoặc Pháp luật Cạnh tranh, Khoan hồng được hiểu là việc cho phép miễn trừ hay giảm trừ hình phạt đối với doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh nhưng sau đó đã hợp tác với các cơ quan thực thi luật cạnh tranh.6 Theo Bộ tư pháp Hoa Kỳ (United States Department of Justice – DOJ), “CSKH dành cho doanh nghiệp là chính sách trao sự miễn giảm cho các doanh nghiệp báo cáo các hành vi vi phạm Pháp luật về Chống độc quyền của họ ngay từ giai đoạn ban đầu. “Việc miễn trừ” được hiểu là không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi được khai báo trong các trường hợp như vậy”7.
Trong Luật Cạnh tranh Việt Nam, CSKH được quy định tại Khoản 1, Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, theo đó, “Doanh nghiệp tự nguyện khai báo giúp Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện, điều tra và xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm quy định tại Điều 12 của Luật này được miễn hoặc giảm mức xử phạt theo CSKH”. 5 Hoàng Trần Bửu Châu (2017), Chính sách khoan hồng trong pháp luật kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của Liên minh Châu Âu - Kinh nghiệm cho Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, tr. 6 Nguyễn Anh Tuấn (2013), Cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng CSKH theo Luật Cạnh tranh của một số nước trên thế giới và đề xuất bổ sung cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1, tr. 7 DOJ Hoa Kỳ (1993), tlđd (2).
9 Như đã phân tích trên đây, tùy thuộc vào khung pháp lý quy định chế tài xử lý các TTHCCT mà việc miễn giảm hình phạt đối với hành vi vi phạm có thể là miễn trách nhiệm hình sự hay các trách nhiệm pháp lý khác. Tuy nhiên, dưới góc độ tổng quát, pháp luật của đa số các quốc gia đều có chung một cách tiếp cận đối với CSKH nói chung và CSKH trong Pháp luật Cạnh tranh/ Pháp luật Chống độc quyền nói riêng đó chính là chính sách cho phép việc trừng phạt hoặc xét xử được thực hiện theo hướng ít nghiêm trọng hoặc ít khắt khe hơn cho chủ thể tự nguyện báo cáo hành vi vi phạm của mình khi báo cáo đó thỏa mãn các điều kiện về thời điểm và nội dung báo cáo. Đặc điểm của chính sách khoan hồng Một chương trình khoan hồng đối với các TTHCCT luôn tạo ra tác động hai mặt. Tính chất hai mặt của chương trình khoan hồng được thể hiện trên cả tác động về số lượng và tính chất của các TTHCCT.
Thứ nhất, đối với tác động liên quan đến số lượng TTHCCT, việc ban hành CTKH có khả năng làm giảm số lượng TTHCCT nhưng ở chiều ngược lại cũng có thể làm tăng số lượng TTHCCT. CSKH khuyến khích các doanh nghiệp tham gia TTHCCT tự nguyện khai báo thông qua đơn xin hưởng khoan hồng, qua đó giúp cơ quan xử lý các TTHCCT có cơ sở để sớm phát hiện và xử lý đối với các hành vi này. Việc phát hiện và xử lý các TTHCCT tạo ra tính răn đe, qua đó làm giảm số lượng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Rất nhiều nghiên cứu lý luận được thực hiện bởi Motta và Polo (2003), Ellis và Wilson (2001), Spagnolo (2003), Motchenkova (2004), Aubert, Kovacic, và Rey (2006), Chen và Harrington (2007), Chen và Rey (2007), Harrington (2008), Harrington và Chang (2009), Houba, Motchenkova, và Wen (2009), Silbye (2010), Bos và Wvàschneider (2011), Choi và Gerlach (2012), Lefouili và Roux (2012), Sauvagnat (2012), Gärtner (2013), và Marshall, Marx, và Mezzetti (2013) đều đi đến kết luận chung là CTKH làm cho các thông đồng trở nên khó khăn hơn.
Bên cạnh các nghiên cứu lý luận, các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện bởi Apesteguia, Dufwenberg, và Selten (2007), Hinloopen và Soetevent (2008), Hamaguchia, Kawagoeb, và Shibatac (2009), Dijkstra, Haan, và Schoonbeek (2011), and Bigoni, Fridolfsson, Le Coq, and Spagnolo (2012) cũng cho thấy CSKH làm giảm việc hình thành các TTHCCT do chính sách khoan hồng làm tăng chi phí và điều kiện để hình thành thỏa thuận8. Tuy nhiên, bên cạnh mặt 8 Joseph E. Harrington, Jr (25/11/2013), When Can We Expect a Corporate Leniency Program to Result in Fewer Cartels; tr. 10 tích cực, khi mức hình phạt không đủ tính răn đe và nguồn lực tiết giảm được nhờ vào sự tố giác thông qua cơ chế nộp đơn xin khoan hồng không đủ lớn, việc áp dụng CTKH sẽ dẫn đến “tác dụng phụ” là làm tăng các TTHCCT.
Một trong những lý do chính dẫn đến “tác dụng phụ” của CSKH là do khi các vụ việc TTHCCT phát hiện theo CTKH tăng lên đáng kể thì nguồn lực của cơ quan xử lý các vụ việc cạnh tranh cũng sẽ tập trung để xử lý các vụ việc này. Điều này sẽ dẫn đến thiếu hụt nguồn lực phân bổ cho các trường hợp không được phát hiện thông qua các đơn báo cáo được nộp theo CTKH, việc không dành đủ nguồn lực cho các trường hợp này làm gia tăng số lượng TTHCCT. “Tác dụng phụ” của chính sách khoan hồng về mặt này có liên quan trực tiếp đến sự hạn chế về nguồn lực xử lý các vụ việc cạnh tranh, do đó, đối với các quốc gia mà nguồn lực chưa bị hạn chế (do việc thực thi Luật Cạnh tranh yếu - thể hiện qua dữ liệu lịch sử ghi nhận số lượng các vụ việc TTHCCT bị xử lý thấp) thì CTKH chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả. Thứ hai, liên quan đến tính chất của TTHCCT, việc ban hành CSKH có khả năng làm cho TTHCCT trở nên kém bền vững (hoặc cản trở việc hình thành TTHCCT) nhưng cũng có thể làm cho các TTHCCT trở nên bền vững và kéo dài hơn.
Hay nói cách khác, CSKH có thể làm giảm số lượng TTHCCT được hình thành nhưng cũng có khả năng tạo ra những thỏa thuận kéo dài hơn. Điều này phụ thuộc vào tính chất ban đầu của thỏa thuận là thỏa thuận bền vững hay không bền vững. Cụ thể như sau: Đối với các TTHCCT không còn bền vững nữa – là đối tượng chủ yếu mà CTKH hướng đến. Một khi điều kiện thị trường không còn đủ hấp dẫn để duy trì sự thông đồng giữ các bên tham gia thỏa thuận, các doanh nghiệp sẽ ngừng thông đồng với nhau và bắt đầu tranh đua để đạt được khoan hồng.
Một TTHCCT được xử lý theo CTKH sẽ kết thúc vào thời điểm thỏa thuận đó sụp đổ toàn bộ. Để được hưởng khoan hồng, doanh nghiệp nộp đơn sẽ cung cấp đầy đủ thông tin nên cơ quan xử lý vụ việc cạnh tranh sẽ xác định được toàn bộ hành vi vi phạm. Điều này có nghĩa là khi đã có doanh nghiệp đạt được khoan hồng thì các doanh nghiệp khác sẽ phải chịu toàn bộ tiền phạt.