CHƯƠNG 1 THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI Ở TRUNG QUỐC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN 1. TINH HINH KINH TẾ XÃ HỘI TRUNG QUỐC THỜI KỲ TRƯỚC | CÀI CÁCH Trước năm 1979 do áp dụng cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã dẫn đến nền kinh tế Trung Quốc kém hiệu quả và mức tăng trưởng thấp trong suốt 30 năm dòng. Các vấn đề mà nền kinh tế Trung Quốc gặp phải cũng tương tự như các vấn đề mà các nước khác có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung gặp phải. Căn bệnh chính của thể chế kinh tế đó là Nhà nước tập trung quá nhiều, quản lý quá chặt.
Nó biểu hiện rất rõ trên một số mặt: Về quản lý kế hoạch, tý trọng kế hoạch trực tiếp tăng nhanh, sản phẩm Nhà nước thống nhất phân phối quá nhiều. Chẳng hạn, năm 1952 chỉ có 55 loại vật tư do Nhà nước thống nhất phân phối đến năm 1957 đã có tới 231 loại. Về quản lý công nghiệp, các xí nghiệp công nghiệp đều do các cơ quan hành chính quản lý trực tiếp. Do quản lý quá nhiều, quản lý quá chặt nên xí nghiệp đã trở thành vật phụ thuộc cơ quan hành chính, thiếu quyền tự chủ kinh doanh.
Về phân phối, Nhà nước chủ yếu phân phối theo chế độ bình quân, hình thức sử dụng theo hướng đơn nhất hoá, hình thành nên chế độ: "bát cơm sắt". Do thể chế sơ cứng nên hiệu quả kinh tế thấp. Sau 30 năm sản xuất nông nghiệp vẫn không tiến triển được bao nhiêu, hàng năm vẫn phải nhập hàng triệu tấn lương thực. Trong lĩnh vực công nghiệp sản xuất đạt chưa đầy 4% sản phẩm công nghiệp thế giới.
Trong đó, điện năng chỉ đạt 1,4%; dầu hoa 1%, 6 tô 0,18%. Khoa học kỹ thuật lạc hậu hàng chục năm so với các nước tiên tiến. Thêm vào đó, phong trào "ba ngọn cờ hồng”, "Đại cách mạng văn hoá" đã dẫn đến hỗn loạn về kinh tế xã hội, càng trầm trọng thêm những căn bệnh của thể chế kinh tế vốn có. Phong trào "toàn dân làm Lê Văn Chiến Đầu tw trực tiếp nước ngoài.
gang thép”, hàng trăm triệu người từ nông thôn, thành thị, các cơ quan trường học phải di chuyển chỗ để khai thác nguyên liệu và nấu gang thép. Trong vòng một năm, Trung Quốc xây dựng 7,5 triệu lò nấu gang thủ công, trong đó công xã nhân dân đóng góp 6 triệu lò. Theo ước tính , chi phí hết chừng 10 tỷ NDT (trong khi toàn bộ vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản trong công nghiệp năm 1957 chỉ có 7,2 tỷ NDT). Hơn 3 triệu tấn thép và 4 triệu tấn gang sản xuất ra, do không có kỹ thuật, nguyên vật liệu thiếu, nấu bằng lò nhỏ và thủ công nên chất lượng thấp kém đến nỗi không thể dùng vào việc gì được, gây lãng phí rất lớn về tiền, của, tài nguyên, sức lao động.
Việc xây dựng công nghiệp 6 ạt dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng giữa hai ngành kinh tế quan trọng của Trung Quốc là nông nghiệp và công nghiệp. Mặt khác, do nhu cầu nhân lực và xây dựng cơ ban tăng nhanh nên trong 3 năm "nhảy vot", số công nhân tăng thêm 25 triệu người, làm cho vấn đề lao động ở nông thôn căng thẳng, nhu cầu về nông sản hàng hoá tăng lên dẫn đến mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, sự phát triển bột phát mù quáng này còn làm cho các nguồn nguyên liệu, tài chính của Trung Quốc bị kiệt quệ. Cùng với "đại nhảy vọt”, phong trào "công xã hoá” cũng làm đảo lộn đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn. Chỉ trong có 45 ngày, từ 47 vạn HTX nông nghiệp cải tổ thành 26.000 công xã với số hộ trung bình gấp 30 lần trước đó.
Một năm sau nó được mở rộng hơn, với quy mô trung bình là 5000 hộ. Thậm chí, nhiều nơi đã thành lập công xã nhân dân trên quy mô toàn huyen. Trên 99% nông dân bao gồm 120 triệu hộ và 500 triệu nông dân đã vào công xã. Với tư tưởng cho rằng chế độ sở hữu tập thể sẽ "không tồn tại lâu dài" mà "có thể chuyển lên chế độ sở hữu toàn dân trong vòng mấy năm" do vậy Trung Quốc đã xoá bỏ thô bạo đất phần trăm để lại, xoá bỏ kinh tế phụ gia đình, thậm chí công hữu hoá cả nhà cửa, gia súc, gia Lê Văn Chiến Đầu tu truc tiép nước ngoài.
cầm của xã viên (họ giải thích rằng đó là "cất cái đuôi" của tư hữu). Trong công xã thực hiện chế độ sở hữu toàn dân và phân phối theo nhu cầu và coi đó như là một cơ cấu xã hội XHCN, đồng thời lại là một đơn vị cơ sở của tổ chức chính quyền của chủ nghĩa cộng sản. Chủ tich | Mao coi đó là một mô hình CNCS ở nông thôn và tự hào là Trung Quốc đi lên CNCS trước Liên Xô. Phong trào này đã gây sự hỗn loạn ở nông thôn Trung Quốc.
Với quy mô lớn, những công cụ thô sơ, thủ công, cán bộ chưa đủ năng lực quản lý lại không được đông đảo quần chúng nông dân đồng tình nó đã cản trở nghiêm trọng tới việc lãnh đạo sản xuất và tổ chức lao động. Việc quản lý sản xuất bị rối tung, tư liệu sản xuất bị phá huỷ (vì sợ công hữu hoá), nạn lười biếng tràn lan vì không làm cũng được ăn trong bếp công cộng (ăn, ở, mặc. đều do công xã chi phí hết theo kiểu hưởng thụ và phân phối CSCN). Vì vậy, chi trong vòng mấy tháng các kho dự trữ lương thực, thực phẩm bị cạn kiệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế - xã hội của Trung Quốc.
Các phong trào "đại nhẩy vot" và "công xã nhân dan" đã làm cho nền kinh tế Trung Quốc bị kéo lùi hàng chục năm. Thêm vào đó, thiên tai liên tiếp trong 3 năm liền từ năm 1959 - 1961 làm cho đời sống nhân dân bị hạ thấp đến nỗi cơm không đủ no, vải chỉ đủ vá, và có tới 31 triệu người bị chết đói. Trong thời kỳ "cách mạng văn hoá", sự phá phách của các "tiểu tướng hồng vệ binh", các "Iôn Ngộ Không đỏ" đã đẩy sản xuất vào tình trang vô chính phủ triển miên, nền kinh tế suy sup nặng. Với khẩu hiệu "chính trị là thống soái", "nắm khâu cách mạng để thúc đẩy sản xuất" người ta đã coi đất phần trăm của nông dân, nghề phụ gia đình, buôn bán là phục hồi chủ nghĩa tư bản; coi nguyên tắc "lợi ích vật chất" là cội nguồn đẻ ra sự khác biệt giàu nghèo và sự phân hoá giai cấp; coi sản xuất hàng hoá, trao đối hàng hoá và nguyên tac phân phối theo lao động là cơ sở kinh tế quan trọng đẻ ra tầng lớp tư sản mới.
Những tư tưởng này đã làm ảnh hưởng rất xấu đối với sự phát triển Lé Văn Chiến Đầu tit trực Hiếp nước ngoài. Nó đã không kích thích được sản xuất, mà còn dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa nông nghiệp và công nghiệp thêm nghiêm trọng. Nông nghiệp do bị thiệt hai nặng nề nên không vực được công nghiệp nhẹ. Nhiều xí nghiệp công nghiệp làm ăn thua lỗ.
Hiện tượng , hỗn loạn trong quản lý va long lẻo trong phân phối gây nên "tiêu hao lớn, lãng phí nhiều, hiệu quả thấp". Nền kinh tế quốc dân bị ngừng trệ trong một thời gian dài, thậm chí thut lùi, sa sút. Năm 1976, thu nhập quốc dân, sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp có mức tăng trưởng âm:-2,7%; -2,4%; - 0,4%. Cách mạng văn hoá đã đẩy nền kinh tế Trung Quốc tới bờ vực thắm, ước tính thu nhập quốc dân của Trung Quốc bị thiệt hại nặng tới 500 tỷ NDT.
Những chính sách kinh tế sai lầm trên đây đã gây ảnh hưởng tiêu cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Trung Quốc. Sau 30 năm mức sống vật chất của người dân hầu như không thay đổi. Đời sống tinh thần hết sức nặng nề, căng thẳng. Thu nhập bình quân hàng tháng của một người lao động ở nông thôn không quá 13 - 15 NDT, thấp hơn mức thu nhập của công nhân viên chức khoảng 4 lần.
Việc phân phối lương thực chia như sau: Khoảng 70-80% chia theo nhân khẩu trong gia đình, 20 - 30% chia theo "trình độ giác ngộ chính trị" cũng như chất lượng và số lượng công việc của người lao động. Mức tiêu dùng lương thực của một người lớn trung bình là 175 kg/năm (thấp hơn mức của năm 1955). Ở thành phố việc phân phối lương thực vẫn theo định lượng ngặt nghèo như mấy chục năm về trước. Mỗi người được phân từ 9 đến 12 kg lương thực, 125 - 250g dầu thực vật một tháng.
Việc nâng cao sức khoẻ cho nhân dân chủ yếu dựa vào các "thầy thuốc chân đất” do các đội sản xuất, các công xã tự đào tạo. Đặc biệt công tác giáo dục ngày càng bị coi thường. Chi phí cho ngành này chi khoảng 5% ngân sách. Theo quan điểm của một số nhà lãnh đạo Trung 10 Lê Văn Chiến Đầu ti trực tiếp nước ngoài.
Quốc lúc đó thì "càng nhiều trí thức càng phản động” nên trong cách mạng văn hoá người ta đã đóng cửa dần các trường đại học và trung học chuyên nghiệp. Số thanh niên bỏ học va di lang thang, đi "tạo phản” trong cả nước lên tới 40 triệu. Số người mù chữ lên tới trên 40% (năm 1962). Thêm vào đó các cuộc chỉnh phong, chỉnh huấn liên miên và cuộc "đại cách mạng văn hoá" đã trà đạp lên cả thể xác lẫn tinh thần của hàng trăm triệu người; công nhân không thể làm việc, nông dân không thể cấy trồng, học sinh không thể đi học.
bởi các cuộc đấu tố liên tiếp xảy ra, trật tự xã hội bị rốt loạn. Trong một thời gian dài người ta gây cho nhân không khí hoài nghi tất cả, phủ định tất cả, đã đảo tất cả. Tàn nhãn hơn, người dân Trung Quốc còn bị thanh trừng, bị vùi đập không chỉ có một thế hệ. Vì quan niệm của những người theo quan điểm tả khuynh cho rằng "bố anh hùng, con hảo hán, bố phan động con khốn nạn”.
Cho tới cuối năm 1976, trước khi "bè lũ 4 tên" bị đổ, xã hội Trung Quốc rơi vào tình trạng gần như vô tổ chức. Công nhân lãn công "đi muộn về sớm”, thậm chí nhiều nơi người ta tổ chức phá hoại đường sắt, gây ra tình trạng không cung cấp đủ dầu, lúa mì và nguyên liệu, làm ảnh hưởng nghiêm trong đến sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và đời sống nhân dân.