MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Việt Nam là một nền kinh tế mới nổi và thị trường chứng khoán đang phát triển nhanh chóng trên thế giới (Nguyễn và ctv. Theo Oxford Analytica (2019) khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tăng và thị trường vốn Việt Nam sẽ trưởng thành nhanh chóng. Tính lũy kế cả năm 2021, khối nhà đầu tư cá nhân trong nước đã mở mới hơn 1,5 triệu tài khoản chứng khoán, lớn gấp rưỡi tổng số tài khoản được mở mới trong giai đoạn từ 2017 đến 2020 cộng lại (tổng 4 năm đạt 1,04 triệu tài khoản) (Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài Chính, 2022). Trong đó, kênh cổ phiếu được quan tâm hơn cả qua khảo sát của Công ty Chứng khoán SSI năm 2022, 76% nhà đầu tư được khảo sát cho biết họ quan tâm đến thị trường cổ phiếu.
Trong khi đó, chỉ có 24% nhà đầu tư cho biết họ quan tâm đến thị trường trái phiếu. Trong nhiều thập kỷ qua, toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại là xu thế chủ đạo và được coi là động lực chính của tăng trưởng kinh tế thế giới. Trước xu hướng đó, ngành xuất nhập khẩu đã và đang nắm giữ được vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế. Theo Bộ công thương Việt Nam, những năm qua xuất nhập khẩu đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới của đất nước ta.
Theo tổng hợp số liệu từ Bộ công thương Việt Nam tính chung 10 tháng năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 616,24 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tăng 15,9%, nhập khẩu tăng 12,2%. Song, theo dự báo của Goldman Sachs, Trung Quốc dự kiến mở cửa nền kinh tế vào quý 2/2023 đã tạo nên những động thái tích cực cho cổ phiếu của một số nhóm ngành xuất nhập khẩu Việt Nam trong tương lai. Hơn nữa, Theo Báo cáo chiến lược đầu tư năm 2023 của Công ty chứng khoán VNDirect đưa lộ trình mở cửa và phục hồi kinh tế của Trung Quốc là một biến số của năm tới, nhưng theo hướng tích cực.
Ngoài ra, VNDirect còn cho rằng xuất khẩu cao su, gạo, rau quả, thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường Trung Quốc có thể tích cực từ xu hướng chi phí vận chuyển giảm và nhu cầu gia tăng. Từ đó, việc cân nhắc đầu tư vào các nhóm ngành xuất nhập khẩu tiềm năng cũng đang nhận được sự quan tâm nhất định từ phía các nhà đầu tư. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán luôn ẩn chứa nhiều biến động và sự biến động của thị trường chứng khoán ở các nước đang phát triển nhìn chung cao hơn so với các thị trường phát triển Kaminsky và Reinhart (1999), điều đó đôi khi tác động tiêu cực đến tâm lý nhà đầu tư cũng như gây bất lợi đến việc thu hút nguồn vốn từ doanh nghiệp xuất nhập khẩu đang niêm yết. Theo Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng giá 1 cổ phiếu sẽ phải đối mặt với yếu tố vĩ mô khác nhau.
Cụ thể, nhiều nghiên cứu thực nghiệm với các yếu tố như tỷ giá hối đoái (Huang và cộng sự, 2023); giá trị sản xuất công nghiệp (Lee và Brahmasrene, 2020); lạm phát (Lộc, 2014) chứng minh có nhiều sự tác động, ảnh hưởng tiêu cực lẫn tích cực đến giá cổ phiếu. Do đó, vấn đề phân tích các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của công ty xuất nhập khẩu là cần thiết, nhằm phân tích mức độ ảnh hưởng và đề xuất một số hàm ý chính sách, kiến nghị nhằm cải thiện giá cổ phiếu trong thời gian tới. Vậy những yếu tố vĩ mô đã tác động như thế nào và ảnh hưởng ra sao đến giá cổ phiếu được phát hành bởi các công ty xuất nhập khẩu? Xuất phát từ những tác động thực tế này, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến sự biến động giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu được niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh”, với mong muốn phân tích và làm rõ thêm phương ảnh hưởng của những tác động của yếu tố vĩ mô đến sự biến động giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu. Từ đó, nhóm nghiên cứu sẽ nêu lên một số hàm ý chính giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến sự biến động giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu được niêm yết trên HOSE.
Từ đó, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm ổn định biến động giá cổ phiếu của các công ty này.2 Mục tiêu cụ thể Thứ nhất, phân tích ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến sự biến động giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu được niêm yết trên HOSE. Thứ hai, phân tích thực trạng biến động giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu niêm yết trên HOSE và các yếu tố vĩ mô. Thứ ba, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm ổn định biến động giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu được niêm yết trên HOSE.3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biến động giá cổ phiếu; các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến sự biến động giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu được niêm yết trên HOSE.2 Phạm vi nghiên cứu 1.1 Phạm vi nội dung Biến động giá cổ phiếu của các công ty có thể đến từ các yếu tố vĩ mô và vi mô. Tuy nhiên, đề tài sẽ chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng, tác động và đo lường ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến sự biến động giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Từ đó, đưa ra các hàm ý chính sách của vấn đề nghiên cứu.2 Phạm vi thời gian Dữ liệu sử dụng để kiểm định các giả thuyết trong nghiên cứu được thu thập từ năm 2011 đến năm 2021. Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI, Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới (World Bank), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.3 Phạm vi không gian Phạm vi nghiên cứu được thực hiện đối với các công ty xuất khẩu và/hoặc xuất nhập khẩu có niêm yết giá cổ phiếu trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.4 CÁCH TIẾP CẬN CỦA NGHIÊN CỨU Để thực hiện đề tài, tác giả tiến hành xây dựng cương chi tiết, xác định rõ nội dung và đối tượng, phương pháp nghiên cứu. Cách tiếp cận của nghiên cứu được tiến hành theo các bước sau: - Lược khảo tài liệu liên quan để hệ thống cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm nhằm xây dựng cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu lý thuyết, và giả thuyết. - Sử dụng dữ liệu thứ cấp để phân tích dữ liệu và nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến biến động giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu được niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh.
3 - Từ những phát hiện trong thực tiễn, nhóm nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách nhằm cải thiện giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, hướng tiếp cận của nghiên cứu là từ cơ sở lý thuyết → Thực tiễn → hàm ý chính sách. Cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm Xây dựng cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu và giả thuyết Thu thập số liệu Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến biến động giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Đề xuất hàm ý chính sách nhằm ổn định biến động giá cổ phiếu của các công ty xuất nhập khẩu niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Hình 1.1 Quy trình nghiên cứu 1.5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1.1 Trong nước Dựa theo Lý thuyết thị trường hiệu quả (Fama, 1970), giá cổ phiếu sẽ phản ánh đầy đủ các thông tin liên quan đến cổ phiếu đó. Có thể hiểu rằng, nếu thị trường là hiệu quả thì giá cổ phiếu sẽ chịu tác động bởi nhiều yếu tố.
Vì vậy, đã có không ít các bài nghiên cứu tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu ở nhiều khía cạnh 4 khác nhau. Góp mặt trong chủ đề về sự tác động của yếu tố vĩ mô đến giá cổ phiếu, có thể kể đến các nghiên cứu sau. Đầu tiên là nghiên cứu của Hussainey và Ngọc (2009), các biến được đề cập là lãi suất, giá trị sản xuất công nghiệp. Số liệu được lấy theo chuỗi thời gian từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 4 năm 2008 tức là 88 tháng và phân tích theo mô hình hồi quy của Nasseh và Strauss (2000); Canova và Nicolo (1995) đề xuất.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sản xuất công nghiệp có tác động tích cực đến giá chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu cũng nhận thấy lãi suất dài hạn và ngắn hạn không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu theo cùng một hướng. Cụ thể là, lãi suất ngắn hạn có mối liên hệ tích cực với giá cổ phiếu trong khi đó lãi suất dài hạn lại có mối liên hệ tiêu cực đáng kể với giá cổ phiếu. Một nghiên cứu khác của Nguyệt và Thảo (2013) chỉ ra kết quả tương tự về sản lượng công nghiệp tương quan dương với thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, nghiên cứu lại cho rằng lãi suất cho vay ngắn hạn tương quan âm với giá cổ phiếu. Nghiên cứu cũng bổ sung thêm các biến cung tiền, lạm phát (đo lường bằng CPI), giá dầu thế giới tương quan thuận chiều với thị trường chứng khoán, riêng tỷ giá hối đoái giữa VND/USD thì tương quan ngược chiều. Trong khi đó theo Kiều và Điệp (2013) lại chỉ ra rằng cung tiền có tác động tích cực đến biến động giá cổ phiếu, lạm phát tương quan nghịch và tỷ giá hối đoái không có ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Bài nghiên cứu của Nguyệt và Thảo (2013) cũng chỉ ra rằng biến CPI trong mô hình có ý nghĩa thống kê thấp nên có thể vẫn chưa phản ánh được chính xác ảnh hưởng của nhân tố lạm phát lên giá cổ phiếu.