Lời mở đầu Chương II: Tổng quan nghiên cứu và trình bày các lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các nhân tố tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp ở các nước và tại Việt Nam. Chương III: Xây dựng mô hình nghiên cứu nhóm yếu tố tác động tới cơ cấu vốn các doanh nghiệp đã lựa chọn trong phạm vi nghiên cứu được niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE. Chương IV: Rút ra kết quả nghiên cứu. Chương V: Ý nghĩa và giải pháp 3 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương II của bài luận này trình bày tóm lược một số lý thuyết hiện đại về cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Đây chính là cơ sở để lựa chọn các biến độc lập dùng để chạy mô hình được trình bày ở chương III. Đồng thời, trình bày về các nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện tại một số các nước trên Thế giới và tại Việt Nam. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động của mình, đặc biệt với những phương án kinh doanh có quy mô đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, các doanh nghiệp phải cân nhắc việc sử dụng hợp lý các nguồn vốn có thể tiếp cận để đạt hiệu quả tối ưu nhất. Doanh nghiệp sẽ phải tính toán xem nên sử dụng vốn vay từ các ngân hàng, vốn từ phát hành trái phiếu, cổphiếu hay sử dụng chính phần lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp.
Cấu trúc vốn tối ưu đề cập đến tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay nợ sao cho tối thiểu chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hóa rủi ro kinh doanh đồng thời tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cấu trúc vốn tối ưu thay đổi qua thời gian và phụ thuộc vào tính chất của doanh nghiệp cũng như các nhân tố bên ngoài môi trường hoạt động. Thực tế, các nhà quản lý thường đặt ra một khoảng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp, ví dụ như 30% đến 40% thay vì đặt ra một con số cụ thể. Về mặt thống kê, cơ cấu vốn được đặc trưng bằng Tỷ trọng nợ trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp hay chính là tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, và được xác định theo công thức sau: 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒏ợ 𝑻ỷ 𝒕𝒓ọ𝒏𝒈 𝒏ợ 𝒕𝒓ê𝒏 𝒕ổ𝒏𝒈 𝒏𝒈𝒖ồ𝒏 𝒗ố𝒏 (𝑫𝒆𝒃𝒕 𝒓𝒂𝒕𝒊𝒐) = 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒕à𝒊 𝒔ả𝒏 2.
Lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp Lịch sử nghiên cứu về vấn đề cấu trúc vốn hiện đại của doanh nghiệp đã bắt đầu từ khá lâu với nghiên cứu Lý thuyết M&M của Modigliani và Miller (1958) - đây cũng 4 là nền tảng cơ sở để các lý thuyết sau này ra đời, với hai trường hợp được nghiên cứu là doanh nghiệp hoạt động trong môi trường không thuế và trong môi trường có thuế. Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên việc chọn ra một danh sách các công ty và kiểm tra cấu trúc vốn của những công ty đó, cụ thể là kiểm tra xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay mượn. Từ đó, M&M đã đưa ra các kết luận quan trọng về cấu trúc vốn doanh nghiệp: Dựa trên một số giả định, giá trị của một công ty độc lập với đòn bẩy tài chính của nó. Trong trường hợp không thuế giá trị công ty không vay nợ và có vay nợ là như nhau, hay nói một cách khác, cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị công ty, hay nói khác đi, việc thay đổi cơ cấu vốn không mang lại lợi ích gì cho cổ đông và không có cấu trúc vốn nào là tối ưu cả.
Đây chính là nội dung mệnh đề M&M số I. Mệnh đề M&M số II cho rằng, chi phí sử dụng vốn trung bình không đổi trong khi chi phí sử dụng vốn cổ phần tăng lên khi công ty gia tăng tỷ số nợ. Còn trong trường hợp có thuế thì giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế do sử dụng nợ. Như vậy, việc sử dụng nợ hay sử dụng đòn bẩy tài chính làm gia tăng giá trị công ty - Đây chính là nội dung mệnh đề M&M số I.
Mệnh đề M&M số II trong trường hợp có thuế cho rằng chi phí sử dụng vốn trung bình giảm trong khi chi phí sử dụng vốn cổ phần tăng lên khi công ty gia tăng tỷ số nợ. Các kết luận trên được đưa ra dựa trên các giả định về thị trường hoàn hảo, không có chi phí kiệt quệ tài chính, không có chi phí giao dịch. Bảng 1 - Giá trị của doanh nghiệp theo Lý thuyết M&M Nợ (D) Tài sản của công ty và các cơ hội phát Vốn chủ sở hữu (E) triển Giá trị công ty (V) Nguồn: Lý thuyết M&M Dựa vào bảng trên ta thấy, giá trị của doanh nghiệp là không thay đổi cho dù có sự thay đổi tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Trong trường hợp này, các nhân tố có thể ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp chỉ đến từ những nhân tố phía bên trái của bảng cân đối.
Chính vì thế, giá trị của tài sản và các cơ hội phát triển là không đổi. Ngược lại, nếu 5 như các cơ hội phát triển của công ty thay đổi, vốn lưu động sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến sự thay đổi trong việc định giá doanh nghiệp. Bởi vậy, một giả thiết quan trọng trong mệnh đề Modigliani và Miller đó chính là sự không thay đổi của các nhân tố nằm phía bên trái của bảng cân đối. Do vậy, các giả định trên khó có thể xảy ra nên đã hạn chế khả năng ứng dụng của lý thuyết M&M trong thực thế.
Vì thế, Lý thuyết M&M về cơ cấu vốn đã tiếp tục được mở rộng ra và phát triển ở nhiều quốc gia, nhiều khu vực kinh tế với những nhân tố được xem xét đa dạng và cụ thể hơn, kết hợp với nhiều yếu tố đã bỏ qua như thuế, chi phí phá sản, các loại chi phí của tổ chức và các loại thông tin đối xứng. Lý thuyết cân bằng Được phát triển bởi Kraus & Litzenberger (1973), Dựa trên các lý thuyết của Modigliani và Miller, Lý thuyết cân bằng là một bước phát triển về lý luận của Miller khi ông đã xem xét đến các tác động của thuế, chi phí phá sản và các chi phí trung gian khi giải thích cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Dựa trên lý thuyết này, các công ty sẽ có những mục tiêu khác nhau khác nhau về tỷ số nợ và nguồn vốn sao cho tối đa hóa được lợi ích của doanh nghiệp. Lợi ích từ nợ đó là lợi ích từ lá chắn thuế nhờ lãi vay.
Còn chi phí tiềm tàng từ việc sử dụng nợ là chi phí kiệt quệ tài chính (Financial Distress Cost) bao gồm các chi phí trả cho kế toán và nhân viên quản trị công ty trong quá trình chờ phá sản, chi phí do mất khách hàng và nhà cung cấp hay chí phí đại diện… Theo quan điểm của Lý thuyết cân bằng, nhà quản trị có thể tối ưu cấu trúc vốn của mình bằng cách xác định điểm mà tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm vừa đủ để bù đắp cho sự gia tăng của chi phú kiệt quệ tài chính dự tính trong điều kiện các kế hoạch đầu tư và tài sản của doanh nghiệp là không đổi. Cụ thể hơn, sẽ tồn tại một điểm kết hợp tối ưu của các công ty khi họ cố gắng hướng đến việc gia tăng sử dụng nợ. Việc gia tăng sử dụng nợ sẽ làm tăng chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC). Theo như Wald (1999), giá trị hiện tại của phần thuế tiết kiệm do việc gia tăng vay nợ sẽ bị triệt tiêu bằng sự gia tăng của giá trị hiện tại trong chi phí phá sản.
Cụ thể hơn, tồn tại những ưu điểm và nhược điểm khi sử dụng nợ. Ở những thời kỳ ban đầu, có những lợi ích từ việc 6 chi trả thuế được gọi là lá chắn thuế. Điều đó có nghĩa doanh nghiệp sẽ trả ít thuế hơn lượng họ phải trả bằng việc vay thêm nhiều nợ. Tuy nhiên, khi có quá nhiều nợ, doanh nghiệp sẽ đối mặt với rủi ro về việc hoàn trả trong tương lai.
Khi không có khả năng chi trả, doanh nghiệp sẽ phá sản. Bởi thế, theo LTCB, điểm kết hợp tối ưu được xác định là điểm cao nhất của đường cong minh họa như trong hình 1.1: Hình 1 - Điểm kết hợp tối ưu theo Lý thuyết cân bằng Nguồn: Lý thuyết cân bằng (Trade-off theory) Lý thuyết cân bằng đã giải thích được mặt hạn chế của lý thuyết M&M về chi phí kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp vay nợ. Ngoài ra, lý thuyết cũng cho thấy được sự khác biệt trong cấu trúc vốn giữa nhiều ngành có mức sử dụng tài sản cố định hữu hình khác nhau. Tuy nhiên, điểm bất cập trong lý thuyết cân bằng là sự bất đồng thuận xảy ra khi doanh nghiệp với đòn bẩy tài chính thấp vẫn có thể có kết quả kinh doanh tốt.
Điều này rõ ràng đối lập với lý thuyết cân bằng: vay nhiều nợ có thể giúp doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận tại điểm cân bằng. Chính vì thế, sự xuất hiện của lý thuyết trật tự phân hạng là điều cần thiết để giải quyết vấn đề này. Lý thuyết trật tự phân hạng (Thông tin bất cân xứng) Theo như Donaldson (1961), thay vì phát hành thêm cổ phiếu, việc sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp sẽ là một kênh chủ yếu để gia tăng nguồn vốn của doanh nghiệp. Đồng tình cùng quan điểm trên, Myers và Majluf (1984) tiếp tục phát triển nghiên cứu của Donaldson và lý thuyết trật tự phân hạng ra đời.
Lý thuyết trật tự phân hạng lý giải các quyết định đầu tư và tài trợ của doanh nghiệp dựa trên cơ sở thông tin bất cân xứng. Bởi vì các nhà quản trị hiểu rõ hơn các nhà đầu tư bên ngoài về tình hình kinh doanh của công ty cũng như khả năng sinh lợi các dự án trong tương lai. Ví dự như, việc phát hành thêm cổ phần bởi các nhà quản lý sẽ có thể làm cho giá trị thị trường của cổ phiếu giảm xuống bởi vì nhà đầu tư sẽ suy đoán rằng nhà quản trị đang tính toán giá trị công ty đang được định giá cao hơn thực tế. Do đó, nếu các dự án có triển vọng, đem lại lợi nhuận cao thì cách tài trợ tốt nhất là dùng nguồn sẵn có từ lợi nhuận giữ lại.