CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QỦA HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý thuyết về đòn bẩy tài chính 1. Khái niệm đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Lumby và Jones (2011) mô tả ĐBTC là tỷ lệ giữa tổng giá trị thị trường của vốn nợ của công ty trên tổng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu.
Khi nợ tăng, ĐBTC tăng. Ngoài ra, một doanh có thể tài trợ cho các khoản đầu tư của mình bằng nợ và vốn chủ sở hữu, và một công ty có thể cũng sử dụng cổ phiếu ưu đãi. Theo Pandey (2010) thì tỷ lệ của các nguồn vốn cố định, chẳng hạn như nợ và cổ phần ưu đãi trên vốn chủ sở hữu trong cấu trúc vốn được gọi là ĐBTC. Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ thay cho vốn chủ sở hữu đó là lãi suất mà công ty phải trả trên nợ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp.
Trong khi đó thì cổ tức hay các hình thức thưởng khác cho chủ sở hữu vẫn bị đánh khoản thuế này. Nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảm được thuế công ty phải trả, và vì thế tăng giá trị của công ty lên. Theo đó, các khoản tiền lãi vay phải trả được coi là khoản chi phí hợp lý và được tính trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, tạo ra lá chắn thuế, giúp số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp ít đi và làm gia tăng lợi nhuận. Do đó, khi tăng nợ tức là giảm chi phí sinh ra trên một đồng tiền mặt và vì thế tăng cao lợi nhuận, cũng như giá trị của công ty.
Về mặt tiêu cực, công ty càng nợ nhiều thì càng có nguy cơ cao mất khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Nói cách khác, nợ quá nhiều sẽ dẫn tới xác suất phá sản và kiệt quệ tài chính cao. Mặt khác, khi công ty vay nợ, chủ nợ và chủ sở hữu cổ phần của công ty có thể gặp phải những xung đột về quyền lợi. Chủ nợ có thể muốn công ty thực hiện các khoản đầu tư ít rủi ro hơn so với mong muốn của những người đầu tư vào cổ phiếu của công ty.
Cách xác định đòn bẩy tài chính Việc xác định ĐBTC luôn được các nhà đầu tư quan tâm, và dành thời gian nghiên cứu thông qua bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp với mục tiêu xác định được đâu là nguồn vốn huy động chính của doanh nghiệp giữa vốn vay và vốn chủ 5 sở hữu. Theo đó, có nhiều cách để nhà đầu tư đánh giá được việc sử dụng ĐBTC như sau. Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản là một loại tỉ lệ ĐBTC xác định tổng số nợ liên quan đến tài sản, cho phép so sánh mức đòn bẩy được sử dụng giữa các công ty khác nhau. Tỉ lệ nợ trên tổng tài sản càng cao thì công ty có mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính càng cao và do đó, rủi ro tài chính càng lớn.
Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản là một tỉ lệ để phân tích bảng cân đối kế toán của một công ty sử dụng cả nợ dài hạn và nợ ngắn hạn (các khoản vay đáo hạn trong vòng một năm), cũng như tất cả các tài sản ngắn hạn và dài hạn. Công thức tính của tỷ lệ nợ trên tổng tài sản Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản = (Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn)/ Tổng tài sản Trong đó, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản lớn hơn 0.5 cho thấy một phần đáng kể tài sản được tài trợ bởi các khoản nợ. Hay nói cách khác, công ty có nhiều khoản nợ hơn tài sản. Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản dưới 0.5 có nghĩa là phần lớn tài sản của công ty được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu.
Ý nghĩa hệ số tỷ lệ nợ trên tổng tài sản Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản là thước đo tài sản được tài trợ bằng nợ thay vì vốn chủ sở hữu của một công ty. Ngoài việc để đánh giá liệu công ty có đủ tiền để đáp ứng các nghĩa vụ nợ hiện tại hay không, các nhà đầu tư còn sử dụng tỉ lệ này để xem xét liệu công ty có thể trả lợi nhuận cho khoản đầu tư của họ hay không. Bên cạnh đó, các chủ nợ cũng sử dụng tỉ lệ này để xem công ty đã có bao nhiêu nợ và khả năng trả nợ hiện tại của công ty, từ đó quyết định có gia hạn các khoản vay bổ sung cho công ty hay không. Theo quy định, nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp phải được thanh toán trong tất cả các trường hợp.
Nếu không, công ty sẽ vi phạm các giao ước nợ và có nguy cơ bị các chủ nợ buộc phải phá sản. Một công ty có đòn bẩy cao sẽ khó khăn hơn để duy trì hoạt động trong thời kì suy thoái so với một công ty có đòn bẩy thấp. Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản cao cũng chỉ ra rằng một công ty có thể có nguy cơ vỡ nợ đối với các khoản vay nếu lãi suất tăng đột ngột. Hạn chế của tỷ lệ nợ trên tổng tài sản 6 Hạn chế của tỷ lệ nợ trên tổng tài sản là tỉ lệ này không cho biết chất lượng tài sản do nó gộp tất cả các tài sản ngắn hạn và dài hạn lại với nhau, từ đó không chỉ rõ được rủi ro thực sự về khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Giống như tất cả các tỉ lệ khác khi đánh giá doanh nghiệp, Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản cần được xác định theo thời gian. Điều này sẽ giúp đánh giá lược đồ rủi ro tài chính công ty có được cải thiện hay không. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu Bên cạnh tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ ĐBTC của doanh nghiệp còn được xác định bằng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu được sử dụng để đánh giá đòn bẩy tài chính của công ty và được tính bằng cách chia tổng nợ phải trả của công ty cho vốn chủ sở hữu của cổ đông.
Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu là một thước đo quan trọng trong tài chính doanh nghiệp. Nó là thước đo mức độ mà một công ty đang tài trợ cho các hoạt động của mình bằng nợ chứ không phải bằng nguồn lực của chính mình. Công thức tính tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu = (Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn)/ Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Ý nghĩa tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu đo lường số nợ mà một công ty phải gánh so với giá trị tài sản ròng của các khoản nợ phải trả. Nợ phải được hoàn trả hoặc tái cấp vốn, áp dụng chi phí lãi vay thường không thể hoãn lại và có thể làm giảm hoặc phá hủy giá trị vốn chủ sở hữu trong trường hợp vỡ nợ.
Do đó, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao thường đi kèm với rủi ro đầu tư cao; nó có nghĩa là một công ty chủ yếu dựa vào tài trợ nợ. Nếu lợi nhuận được tạo ra bằng khoản vay lớn hơn chi phí phải trả của khoản vay, thì các cổ đông sẽ được hưởng lợi. Tuy nhiên, nếu chi phí bổ sung của việc vay nợ lớn hơn thu nhập bổ sung mà nó tạo ra, thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm xuống. Chi phí nợ và khả năng phục vụ nợ của công ty có thể thay đổi theo điều kiện thị trường.
Hạn chế của tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu 7 Khi sử dụng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, điều rất quan trọng là phải xem xét ngành mà công ty hoạt động. Bởi vì các ngành khác nhau có nhu cầu vốn và tốc độ tăng trưởng khác nhau, giá trị tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu phổ biến trong một ngành có thể là dấu hiệu cảnh báo ở một ngành khác. Bên cạnh đó, trên thực tế không phải lúc nào cũng nhất quán về những gì được định nghĩa là nợ. Ví dụ cổ phiếu ưu đãi là khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả cho người sở hữu cổ phiếu ưu đãi mặc dù cổ phiếu ưu đãi được ghi nhận vào vốn chủ sở hữu, vì các khoản thanh toán cổ tức ưu đãi không phải là nghĩa vụ pháp lý và cổ phiếu ưu đãi xếp hạng dưới tất cả các khoản nợ (nhưng cao hơn cổ phiếu phổ thông) theo thứ tự ưu tiên trong quyền chia tài sản của công ty.
Tuy nhiên, cổ tức ưu đãi thường ổn định, mệnh giá và quyền thanh lý làm cho cổ phiếu ưu đãi trông giống nợ hơn. Khi phân tích về nghĩa vụ phải thanh toán của doanh nghiệp, cộng cả phần cổ phiếu ưu đãi trong tổng số nợ sẽ làm tăng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và làm cho một công ty có vẻ rủi ro hơn. Hơn nữa, cũng giống như tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu mang tính thời điểm, vì vậy cần được phân tích theo thời gian để có cái nhìn khách quan hơn. Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 1.
Khái niệm hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Theo Paul A Samuemlson viết trong cuốn Kinh tế học (1947) chỉ ra: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người”. Theo cách tiếp cận này, đã chỉ rõ được hai đặc tính của phạm trù hiệu quả đó là sử dụng tối ưu các nguồn lực và mục đích của hoạt động. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa đưa đến cách thức xác định hiệu quả nói chung, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Theo quan điểm của nhà kinh tế học người Anh Adam Smith, cho rằng: “Hiệu quả hay kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”.
Từ 2 quan điểm khác nhau này, ta cần có sự phân biệt rõ ràng giữa hiệu quả và kết quả kinh doanh. Kết quả kinh doanh mới chỉ là biểu hiện về mặt hình thức mà hoạt động kinh tế thu được, nhưng kết quả đó tạo ra bằng cách nào, với giá nào mới là mối quan tâm của các nhà kinh tế học, nó thể hiện chất lượng của hoạt động.